Khái niệm: Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Vì người nộp thuế trực thu là người trả thuế cuối cùng trong một kỳ sản xuất kinh doanh nên khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác là không thể hoặc trở nên khó khăn hơn. Thuế Giá trị gia tăng, người tiêu dùng cuối cùng phải chịu, cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế vào ngân sách nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ. Đặc điểm của thuế Giá trị gia tăng: Đó cũng là lý do một vài nước đi tiên phong trong việc thu thuế người đầu tư vào loại tài sản này. Theo một báo cáo của PwC, Úc, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Mỹ là những quốc gia đầu tiên ban hành các hướng dẫn về thuế đối với người đầu tư Đề xuất giảm 50% Thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng, 50% Thuế VAT với xăng, dầu. Thiên. •. Thứ bảy, 24/09/2022. Bộ Tài chính lấy ý kiến đề xuất giảm 50% Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) với mặt hàng xăng và giảm tối đa 50% thuế giá trị gia tăng (VAT) với cả hai loại Bộ Công Thương bắt đầu điều tra vụ việc vào ngày 24/8/2020. Bộ Công Thương đã xem xét và đánh giá kỹ lưỡng mức độ bán phá giá của các sản phẩm thép hình chữ H nhập khẩu từ Malaysia, thiệt hại của ngành sản xuất trong nước cũng như đánh giá tác động kinh tế-xã hội, gồm cả tác động tới các ngành Trong quá trình sản xuất công ty nhập loại hình A12, đã nộp thuế nhập khẩu đầy đủ và khi xuất khẩu dùng loại hình E62: 1. Hiện tại, do còn vướng mắc một số giấy tờ nên công ty chưa tiến hành hoàn thuế nhập khẩu được cho những tờ khai E62. Với những tờ khai E62 sản xuất từ nguồn nguyên liệu từ lJbmjl. Góc nhìn Thứ hai, 16/4/2018, 0000 GMT+7 “Cảnh sát thuế” là một khái niệm được đề xuất cách đây vài năm, bởi Tổng cục Thuế, gửi đến các cơ quan lập pháp nước ta. Đại diện cơ quan này, khi ấy đã chia sẻ với tôi rằng đội ngũ này sẽ đảm nhiệm việc theo dõi, điều tra và sau khi có đủ bằng chứng, có quyền khởi tố người trốn thuế. Ngành Thuế xây dựng đề xuất này sau khi đã tham khảo kinh nghiệm một số nước. Nhưng đề xuất này không được đồng tình và đến giờ còn rất ít người nhớ. Tội trốn thuế, một tội hình sự, hiện vẫn do Cục Cảnh sát Kinh tế thuộc cơ quan công an có quyền điều tra và khởi tố. Ở một số nước, “cảnh sát thuế” có nhiệm vụ đặc trưng, nghiệp vụ điều tra rất riêng biệt và đặc thù. Đội ngũ này rất quyền lực vì họ có thể đưa thẳng nghi can trốn thuế ra tòa và có thể vào tù không thông qua bên thứ ba. Ở Việt Nam, số tiền bị trốn thuế chưa bao giờ được ước lượng một cách công khai và chính thức. Cuối năm rồi, Bộ Tài chính báo cáo tổng số tiền nợ thuế là tỷ đồng. Cơ quan này “phấn đấu tổng số nợ thuế đến thời điểm 31/12/2018 không vượt quá 5% tổng thu ngân sách năm”. Đó là một con số rất lớn. “Nợ thuế” tức là chưa mất, vì còn địa chỉ và còn có thể đòi được, nhưng số tiền thất thoát do trốn thuế thì chúng ta không biết và thiếu cơ chế để truy đòi. Trong giới ước đoán, số tiền đã bị trốn thuế hàng năm không hề nhỏ hơn so với số nợ thuế kia. Bộ Tài chính tuần rồi vừa họp báo về dự án Luật Thuế Tài sản với mục tiêu “thu thêm hơn tỷ đồng cho ngân sách”. Tôi thầm nghĩ, nếu chúng ta thu đúng, thu đủ số tiền nợ thuế và giảm bớt trường hợp trốn lậu thuế, thì ngân sách nghiễm nhiên đã có thêm mấy chục nghìn tỷ đồng rồi, như lẽ ra nó vẫn phải có. Nhưng tất nhiên là ngay cả khi ngân sách thu được mấy chục nghìn tỷ đồng đó, thì Nhà nước vẫn có thể đưa ra những luật thuế mới, mà Thuế Tài sản ở đây là một ví dụ. Vì thuế, quay về đúng sứ mệnh của nó, là một công cụ quản lý và vận hành xã hội của Nhà nước. Nhưng từ quan sát của mình về cách truyền thông chính sách và phản ứng của dư luận, tôi thấy có mấy điểm cần lưu ý trong câu chuyện này Thứ nhất, cần khẳng định Thuế Tài sản ở đây là một sắc thuế mới. Nhà gắn liền với đất và nhà được coi là một loại bất động sản nhưng vì thuế sử dụng đất đã được thu rồi nên bây giờ Bộ Tài chính muốn đánh thuế vào nhà như một đối tượng độc lập với đất. Và bên cạnh nhà, dự án luật này còn đánh thuế một số loại tài sản khác như ô tô, máy bay, du thuyền, tư liệu sản xuất… Đây là một loại thuế trực thu đánh thẳng vào chủ tài sản. Thứ hai, nhiều thắc mắc liên quan đến sắc thuế này cần được Bộ Tài chính làm rõ. Ở góc độ đối tượng phải chịu tác động trực tiếp đến túi tiền là người dân và doanh nghiệp, họ cần biết rõ hơn các chi tiết, mức thuế suất 0,4% dựa trên căn cứ nào? Ai sẽ thực thi quy trình định giá, phương thức định giá như thế nào, các công cụ định giá, tính thuế, thu thuế,… Chưa kể nhà, ô tô, máy bay, tàu thuyền, chúng đều là “tiêu sản” - giảm giá theo thời gian sử dụng kể cả khi giá đất tăng lên. Vậy lấy gì làm chuẩn neo giá các tài sản đó? 3 hay 5 năm sẽ điều chỉnh, điều chỉnh như thế nào? Những lỗ hổng thông tin cơ bản cần phải rất rõ với người dân. Thứ ba, các chức năng của thuế như tạo nguồn thu cho ngân sách, phục vụ sự vận hành của bộ máy nhà nước, đảm bảo an ninh quốc phòng, cung cấp phúc lợi xã hội và dịch vụ công, điều tiết thu nhập; cùng với các nguyên tắc thuế cần tuân thủ như công bằng, bình đẳng, hiệu quả trong trường hợp thuế Tài sản sẽ được thực hiện như thế nào và bằng cách nào? Chẳng hạn, thuế này sẽ điều tiết thu nhập, hành vi tiêu dùng của ông chủ “biệt thự 6 con gà vàng” và người đang chỉ có ngôi nhà rách ra sao? Cả hai, liệu họ có sống tốt hơn và cảm thấy công bằng hơn? Cách công bố thông tin theo kiểu “quăng bom” đối với một sắc thuế ảnh hưởng đến hàng chục triệu con người như thuế Tài sản đang thiếu sự chuẩn bị chu đáo, thiếu những phân tích, lập luận thuyết phục từ nhiều góc độ. Đặc biệt, đứng từ góc độ những người chịu ảnh hưởng của chính sách, nó tất yếu gây ra sự ngỡ ngàng, bất ngờ cho dư luận xã hội, thậm chí phản ứng tiêu cực từ phía người dân. Thuế là một từ vốn không được ưa thích nên nó còn được gọi là gánh nặng thuế tax burden. Chẳng ai thích “gánh nặng” cả, họ chỉ chấp nhận ở chỗ nó có hợp lý hay không mà thôi. Người dân và doanh nghiệp, nếu buộc phải nhận gánh nặng ấy, họ cần được lý giải tại sao, nó có công bằng cho tất cả các bên chứ không phải nghe đi nghe lại điệp khúc quen thuộc “các nước đã đánh thuế” nên mình cũng vậy. Những lập luận một chiều, áp đặt, không gây bất bình mới là lạ. Chuyện đánh thuế hay không nhiều khi không quan trọng bằng chuyện đánh thuế thế nào. Cách thu thuế, thực tế còn nói lên cả cách chi. Gần đây, chính phủ Pháp mới chỉ định tăng thuế suất thuế thu nhập cá nhân lên 75%, hàng loạt triệu, tỷ phú nước này đã tính dời sang nước láng giềng Luxembourg sống. Đó là một vế khác của sắc thuế mà không quốc gia nào mong đợi. Vũ Đình Ánh Để thực hiện các chương trình hành động của mình, chính phủ phải có nguồn ngân sách, và nguồn thu chủ yếu là từ thuế. Chúng ta sẽ thấy rằng, khi chính phủ đánh thuế thì cả người bán vá người mua đều bị thiệt thuế làm tăng giá mà người mua phải trả và giảm giá mà người bán nhận được, chi phí mức tổn thất mà thuế gây ra đối với người bán và người mua vượt quá số tiền mà chính phủ thu được. Thuế đánh vào người mua hay người bán không quan trọng, vì chúng đều gây ra kết cục như nhau. Khi thuế đánh vào người mua, đường cầu dịch chuyển xuống dưới sang trái một lượng tương ứng; khi nó đánh vào người bán, đường cung dịch chuyển lên trên sang trái một lượng tương ứng. Trong cả hai trường hợp, thì khi thuế được thực thi, giá mà người mua phải trả Pm tăng, còn giá mà người bán nhận được Pb giảm. Mức thuế t chính bằng khoảng cách PmPb. Xét cho cùng, người mua và người bán cùng nhau chia sẻ gánh năng thuế, cho dù nó được đánh theo cách nào. Để đơn giản hóa sự thảo luận, hình minh họa trên không vẽ sự dịch chuyển của đường cung hoặc đường cầu, mặc dù một đường phải dịch chuyển. Việc đường nào dịch chuyển phụ thuộc vào chỗ thuế được đánh vào người bán đường cung dịch chuyển hay người mua đường cầu dịch chuyển. Kết quả then chốt của công cụ này là thuế tạo ra một chiếc nêm giữa giá mà người mua phải trả và giá mà người bán nhận được. Do cái nêm về thuế này, lượng hàng bán ra giảm xuống dưới mức bán ra nếu không có thuế. Nói cách khác, thuế đánh vào một hàng hóa làm cho thị trường về hàng hóa đó bị thu hẹp. Thuế tác động tới những người tham gia thị trường như thế nào? Bây giờ chúng ta hãy sử dụng các công cụ của môn kinh tế học phúc lợi để tính toán những cái được và cái mất phát sinh từ thuế đánh vào một hàng hóa. Để làm điều này, chúng ta phải tính đến những ảnh hưởng của thuế đối với người bán, người mua và chính phủ. Nhắc lại lý thuyết về phúc lợi Lợi ích mà người mua nhận được trên một thị trường được gọi là thặng dư tiêu dùng – tức là mức giá mà người mua sẵn sàng trả cho hàng hóa trừ đi số tiền mà họ thực sự phải trả. Lợi ích mà người bán nhận được trên một thị trường được gọi là thặng dư sản xuất – tức số tiền mà người bán nhận được trừ đi chi phí họ phải bỏ ra. Thế còn bên thứ ba cần quan tâm là chính phủ thì sao? Thuế T là mức thuế và Q là lượng hàng bán ra, thì chính phủ nhận được tổng nguồn thu thuế bằng T*Q. Chính phủ có thể sử dụng nguồn thu thuế này để cung cấp các dịch vụ, chẳng hạn đường sá, vệ sinh môi trường, an ninh trật tư, giáo dục công cộng hoặc giúp đỡ những người gặp khó khăn. Tức là nguồn thu thuế cũng tạo ra phúc lợi cho xã hội. Nguồn thu từ thuế được biểu thị bằng hình chữ nhật nằm giữa đường cung và đường cầu, trong đó chiều cao của hình chữ nhật là mức thuế T và chiều rộng của nó là lượng hàng bán ra Q. Sự thay đổi về phúc lợi trước và sau thuế được thể hiện trong bảng sau Không có thuế Có thuể Mức thay đổi Thặng dư tiêu dùng A + B + C A – B + C Thặng dư sản xuất D + E + F F – D + E Nguồn thu từ thuế 0 B + D + B + D Tổng thặng dư xã hội A + B + C + D + D + F A + B + D + F – C + E Khi có thuế Thặng dư tiêu dùng giảm lượng B+C mang dấu âm – hay còn gọi là gánh nặng thuế mà người tiêu dùng phải chịu Thặng dư sản xuất giảm D+E mang dấu âm – hay còn gọi là gánh nặng thuế mà nhà sản xuất phải chịu Tổng thu thuế của chính phủ là B+D mang dấu dương Khi cộng các bộ phận này với nhau, chúng ta thấy thặng dư trên thị trường giảm so với ban đầu khi chưa có thuế là phần diện tích C + E, được gọi là phần mất trắng của xã hội. Như vậy, cái mất của người mua và người bán do một khoản thuế gây ra vượt quá nguồn thu về thuế mà chính phủ nhận được. Phần diện tích C + E phản ánh quy mô của khoản mất không, hay là chi phí của việc đánh thuế gây ra cho xã hội. Phân tích kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy rằng Phần thặng dư của người tiêu dùng bị giảm đi lượng B+C. Trong đó phần diện tích B dịch chuyển vào ngân sách chính phủ để thực hiện các dự án công cộng và cuối cùng cũng sẽ mang lại phúc lợi cho xã hội. Còn phần diện tích C thì không vào đâu cả, nó thuộc phần mất trắng của xã hội. Tương tự, phần thặng dư sản xuất bị giảm lượng D+E. Trong đó phần diện tích D dịch chuyển vào ngân sách chính phủ, còn phần E rơi vào khoản mất trắng của xã hội. Tại sao thuế lại gây ra khoản mất không? Chúng ta thấy rằng thị trường thường phân bổ các nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả, nghĩa là trạng thái cân bằng cung cầu tối đa hóa tổng thặng dư mà người bán và người mua nhận được trên một thị trường. Song khi thuế làm tăng giá đối với người mua và giảm giá đối với người bán, nó kích thích người mua tiêu dùng ít hơn và người bán sản xuất ít hơn so với mức bình thường. Như vậy, vì có thuế nên có những giao dịch làm lợi cho cả hai bên không được thực hiện, gây ra tổn thất phúc lợi xã hội, và thị trường phân bổ nguồn lực không có hiệu quả. Trường hợp ngoại lệ Thuế Pigou đánh vào ngoại ứng tiêu cực sẽ giúp làm tăng PLXH. ThanhHVBC Điều hướng bài viết Trang chủ CNTT Tài chính - Ngân hàng ADMICRO A. Người bán hàng trung gian B. Người bán hàng cuối cùng C. Người tiêu dùng D. Cả A, B, C đều sai. Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO Gánh nặng thuế tiếng Anh Tax burden là tổng mức thuế đánh vào cư dân một nước dưới hình thức thuế thu nhập, thuế công ty, thuế doanh thu, Hình minh họa Nguồn niệmGánh nặng thuế trong tiếng Anh là Tax nặng thuế là tổng mức thuế đánh vào cư dân một nước dưới hình thức thuế thu nhập, thuế công ty, thuế doanh thu, Khi chia tổng mức thuế cho tổng sản phẩm quốc dân T/Y, chúng ta có một chỉ tiêu phản ánh gánh nặng thuế nói chung. Chú ý rằng đây chính là thuế suất bình quân t trong nền kinh tế. Chẳng hạn hiện nay, chính phủ Việt Nam thu khoảng 22% thu nhập quốc dân dưới dạng thuế t=22%. Điều này hàm ý mỗi đồng thu nhập quốc dân phải chịu mức thuế bình quân là 22 xu.Tài liệu tham khảo Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dânGánh nặng thuế đối với các bên tham gia thị trườngTác động của thuế đánh vào người sản xuất Giả sử Chính phủ đánh thuế t đồng/sản phẩm đầu raTrước khi có thuế đường cung S giao với đường cầu D tại điểm cân bằng là A. Khi đó hàng hóa được bán với giá Po và lượng hàng hóa giao dịch là Qo. Lúc này thặng dư tiêu dùng là diện tích PoAE, thặng dư sản xuất là diện tích PoAF và tổng phúc lợi xã hội là diện tích EAF= PoAE + chính phủ đánh thuế, người bán hàng biết rằng mỗi đơn vị hàng hóa bán ra họ phải trả trước mức t cho chính phủ dưới dạng thuế, điều đó làm cho chi phí bên sản xuất tăng thêm một lượng đúng bằng t và đường cung sẽ dịch chuyển lên tương ứng thành đường St. Tại điểm cân bằng thị trường mới là B sản lượng giao dịch là Q1 với mức giá Pm. Tuy nhiên đây chỉ là mức giá người mua phải phần người mua giá Pm cao hơn giá Po do đó người mua đã chịu một phần thuế, phần thuế người mua chịu là PoPm, tổng gánh nặng thuế mà người mua phải chịu là PoPmBG. Về phía người bán, mặc dù nhận được mức giá Pm nhưng họ phải trả thuế cho chính phủ. Do đó mức giá thực của họ nhận được là Pm - t, khoảng cách S và St là t. Vì mức giá của người bán sau thuế là Pb= Pm - t thấp hơn mức giá trước thuế. Vậy người bán cũng chịu một phần thuế PoPb và tổng gánh nặng thuế là vậy trên danh nghĩa là đánh vào nhà sản xuất nhưng thực tế cả người mua và người bán đều thiệt, đem lại cho ngân sách khoản PmPbCB, phần người mua phải chịu lớn hơn hay nhỏ hơn phụ thuộc vào độ co giãn của tác động phân phối lại thu nhập, thuế còn gây ra tổn thất phúc lợi cho xã hội. Thật vậy sau khi đánh thuế thặng dư tiêu dùng diện tích là PmBE, thặng dư sản xuất bằng diện tích PbCF thì phúc lợi xã hội là CBEF thấp hơn thuế đúng bằng diện tích ABC. Đây là phần mất không của phúc lợi xã hội, nó tùy thuộc vào thuế và co giãn của cung động của thuế đánh vào người tiêu dùngPhân tích ảnh hưởng của thuế đánh vào người sản xuất cũng tương tự phân tích ảnh hưởng của thuế với người tiêu dùng, chỉ khác là đánh vào người sản xuất làm dịch chuyển đường S còn đánh vào người tiêu dùng làm dịch chuyển đường D cân bằng thị trường tại Po, khi có thuế t đánh vào người mua biết rằng với mỗi đơn vị hàng hóa họ mua, họ sẽ phải trả thêm đồng tiền thuế. Do đó họ sẵn sàng trả cho người bán ở mức giá Po - kết quả là đường cầu dịch chuyển từ D xuống Dt và cân bằng thị trường mới tại C tức cân bằng thị trường tại Pb, Q1. Minh họa bằng đồ thịThặng dư sản xuất là PbCF, thặng dư tiêu dùng là PmBE, phúc lợi xã hội là EBCF và phúc lợi xã hội mất không là thể bạn quan tâm1 thùng Kova chống thấm được bao nhiêu m2 sảnNhờ rota và tiêm phế cầu bao nhiêu tiền?William và Mary có yêu cầu SAT 2024 không?Có bao nhiêu vecto khác vecto 0 có điểm đầu và điểm cuối là các đỉnh của ngũ giácSức kéo của sản lượng cao Ford f250 2023 là bao nhiêu?Lợi ích của các bên tham gia thị trườngViệc thuế hàng hóa đánh vào người bán hay người mua trong một mặt hàng là không quan trọng. Khi thuế đánh vào người mua, lượng cầu dịch chuyển xuống dưới một đoạn tương ứng, khi nó đánh vào người bán lượng cung dịch chuyển lên trên một đoạn tương ứng. Trong cả hai trường hợp thì khi thuế được thực thi, giá mà người mua phải trả đều tăng và giá mà người bán nhận được đều giảm. Xét cho cùng, người bán và người mua cùng chua sẻ gánh nặng thuế cho dù nó được đánh theo cách nào.Tài liệu tham khảo Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Tài chính Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh trên những loại hàng hóa mà nhà nước muốn điều tiết sản xuất và tiêu dùng thông qua giá. Thuế đánh về phía cầu nên đối tượng nhắm tới là người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ bị đánh thuế TTĐB. Và như thế , gánh nặng thuế hoàn toàn thuộc về người tiêu dùng. Do vậy người tiêu dùng sẽ tìm cách để giảm gánh nặng ấy bằng cách chuyển một phần gánh nặng thuế sang nhà sản xuất và kinh doanh. Vì thuế tiêu thụ đặc biệt quy định rằng nhà sản xuất hay kinh doanh hàng hóa chịu thuế phải nộp trước khoản thuế đó cho nhà nước, nó được xem như chi phí phải trả trước mà nhà sản xuất chịu . Thế nhưng khi nhà sản xuất và kinh doanh lấy số thuế ấy cộng trực tiếp vào giá bán hàng hóa. Làm cho giá trở nên quá cao thì người tiêu dùng có xu hướng sử dụng hàng hóa đó ít đi. Điều đó làm cho hàng hóa không được bán hết trên thị trường dẫn đến nhà sản xuất và doanh nghiệp lại nhận gánh nặng do có thuế vào mình. Cả hai bên điều muốn giảm thiệt hại về mình tới mức thấp nhất khi có thuế,do hành vi trên thị trường thay đổi dẫn đến người mua và người bán sẽ chia nhau một phần gánh nặng thuế, như vậy giá người mua thực trả cho hàng hóa đó tuy cao hơn giá lúc chưa có thuế nhưng vẫn thấp hơn giá hàng ban đầu cộng với thuế vì nhà sản xuất đã chia sẽ một phần thuế phải nộp với người tiêu cùng nên giá khi có thuế sẽ không quá cao và người mua có thể chấp nhận được. Ta biết rằng cả người mua và người bán khi phải chịu thuế đều cố gắng chuyển bớt thuế sang cho người kia. Khi tác động của thuế làm cho lợi ích của họ xấu đi thì thuế đã tạo gánh nặng cho họ, đó là gánh nặng thuế được đề cập. nhưng khả năng dịch chuyển như thế nào còn phụ thuộc vào phản ứng của họ trước sự thay đổi về giá. Nhận xét khi đường cầu co giãn nhiều, đường cung co giãn ít trường hợp 1 thì gánh nặng thuế của người tiêu dùng là diện tích kẻ ô đậm PmP0CB nhỏ hơn gánh nặng thuế của người bánP0CDPm. Và ngược lại khi đường cầu ít co giãn trường hợp 2, đường cung co giãn nhiều nên gánh nặng thuế chủ yếu rơi vào người mua phần diện tích tô đậm. Trước sự thay đổi hành vi tiêu dùng của người mua như thế, phía bên người bán muốn giảm bớt sô thuế mà mình phải chịu đã tiến hành các biện pháp giảm chi phí các yếu tố sản xuất đầu vào và chuyển gánh nặng đó sang phía nhà cung ứng; nếu không dịch chuyển được thì bên bán xoay sang giảm các chi phí khác, chẳng hạn như chi trả tiền lương. Khi đó, đối tượng chịu thuế TTĐB sau cùng chính là người lao động trong ngành này. Hay khi các công ty không thể tăng doanh thu hoặc cắt giảm chi phí, thì lợi nhuận của họ sẽ bị tổn hại thì chính những cổ đông của công ty sẽ chịu khoản thuế trên. Gánh nặng thuế là một thuật ngữ kinh tế chỉ người phải đóng thuế. Thông thường, các nhà kinh tế phân biệt hai loại gánh nặng thuế ban đầu và gánh nặng thuế cuối cùng. Gánh nặng thuế ban đầu là những người phải tiếp xúc với cơ quan thu để nộp thuế. Gánh nặng thuế cuối cùng là những người thực sự chịu khoản thuế dù đó có phải là người tiếp xúc với cơ quan thu để nộp hay không. Ví dụ, trong trường hợp thuế tiêu thụ, người sản xuất hàng hóa là người tiếp xúc với cơ quan thu và nộp thuế cho cơ quan này. Họ là người chịu gánh nặng thuế ban đầu. Nhưng thuế này được đưa vào giá bán hàng hóa. Vì thế, người thực sự phải chịu số thuế này là người tiêu dùng. Họ là người chịu gánh nặng thuế cuối cùng. Các sắc thuế gián thu là các sắc thuế mà gánh nặng thuế ban đầu và gánh nặng thuế cuối cùng khác nhau. Còn với các sắc thuế trực thu, vì người nộp thuế và người chịu thuế là một, nên chỉ có một gánh nặng thuế. Phân tích gánh nặng thuế là công việc phân tích xem nhóm dân cư chịu thuế nào trong xã hội bị thiệt nhiều hơn do việc ban hành một sắc thuế. Phân tích gánh nặng thuế được tiến hành đầu tiên bởi các nhà kinh tế học trọng nông ở Pháp. Tuy nhiên, phải đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, công việc này mới trở thành một lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự tham gia của nhiều nhà kinh tế. Với các sắc thuế có thuế suất lũy tiến, người có thu nhập cao hơn hay có nhiều tài sản hơn là người chịu thuế nhiều hơn. Còn với các sắc thuế có thuế suất lũy thoái, người có thu nhập thấp hơn hay tài sản ít hơn là người chịu thuế nhiều hơn. Để đánh giá việc phân bổ gánh nặng thuế giữa các nhóm dân cư, các nhà kinh tế tiến hành tính thuế suất thực còn gọi thuế suất hiệu dụng, thuế thực sử cho từng nhóm theo công thức sau Thuế suất thực = 100% × Tổng thuế phải chịu Tổng thu nhập chịu thuế Thuế suất này càng cao nghĩa là càng chịu nhiều thuế. Nếu một sắc thuế dành thuế suất thực cao hơn cho nhóm dân cư có thu nhập thấp hơn thì sắc thuế đó vi phạm nguyên tắc công bằng của thuế. Xem thêm Gánh nặng thuế quá mức Lấy từ “ Thuế tiêu thụ đặc biệt là gì? Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Ảnh minh họa 1. Thuế tiêu thụ đặc biệt là gì? Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ nhằm điều tiết việc sản xuất, nhập khẩu và tiêu dùng xã hội. Đồng thời điều tiết mạnh thu nhập của người tiêu dùng. Góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nước, tăng cường quản lý sản xuất kinh doanh đối với những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Thuế này do các cơ sở trực tiếp sản xuất ra hàng hoá đó nộp nhưng người tiêu dùng là người chịu thuế vì thuế được cộng vào giá bán. 2. Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Căn cứ tại Điều 2 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 sửa đổi 2014 và khoản 2 Nghị định 108/2015/NĐ-CP, quy định các đối tượng chịu thuế tiêu đặc biệt như sau Hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt - Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; - Rượu; - Bia; - Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; - Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; - Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích dân dụng. - Xăng các loại; - Điều hoà nhiệt độ công suất từ BTU trở xuống; - Bài lá; - Vàng mã, hàng mã không bao gồm hàng mã là đồ chơi trẻ em, đồ dùng dạy học. Lưu ý hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phải là các sản phẩm hàng hóa hoàn chỉnh, không bao gồm bộ linh kiện để lắp ráp các hàng hóa này. Dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt - Kinh doanh vũ trường; - Kinh doanh mát-xa massage, ka-ra-ô-kê karaoke; - Kinh doanh ca-si-nô casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót jackpot, máy sờ-lot slot và các loại máy tương tự; - Kinh doanh đặt cược bao gồm Đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật; - Kinh doanh gôn golf bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; - Kinh doanh xổ số. 3. Đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Căn cứ theo Điều 3 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 sửa đổi 2014 và khoản 3 Nghị định 108/2015/NĐ-CP, hàng hóa theo quy định trên không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong các trường hợp sau 1 Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu; 2 Hàng hóa nhập khẩu gồm - Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ, bao gồm + Hàng viện trợ nhân đạo, hàng viện trợ không hoàn lại, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hàng trợ giúp nhân đạo, hàng cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh; + Quà tặng của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; + Quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo định mức quy định của pháp luật. - Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ; - Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; - Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật; 3 Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch; 4 Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông; 5 Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ. 4. Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt Theo Điều 4 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 sửa đổi 2014 người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt được quy định như sau - Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. - Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Xuân Thảo Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info Kinh doanhVĩ mô Thứ hai, 6/12/2021, 1927 GMT+7 Thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô sản xuất lắp ráp trong nước được lùi đến hết năm nay. Theo Nghị định 104 vừa được Chính phủ ban hành, thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt của kỳ tháng 10 và 11 với ôtô sản xuất lắp ráp trong nước sẽ nộp chậm nhất vào 20/12 và 30/12 năm người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số thuế phải nộp, thì số thuế được gia hạn sẽ gồm cả khoản thuế phải nộp tăng thêm do khai bổ nếu người nộp thuế thuộc đối tượng được gia hạn kê khai, nộp tờ khai thuế theo quy định, thì chưa phải nộp số thuế phát sinh. Lắp ráp xe Vinfast bên trong nhà máy tại Hải Phòng. Ảnh Giang Huy Cũng theo nghị định này, các chi nhánh, đại lý của doanh nghiệp sản xuất ôtô cũng thuộc diện được gia hạn nộp loại thuế này. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp không có hoạt động sản xuất hoặc lắp ráp ôtô không thuộc diện được gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc định có hiệu lực từ ngày 4/12. Sau thời gian gia hạn, việc nộp loại thuế này được thực hiện theo quy định hiện đầu năm, số thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô sản xuất, lắp ráp trong nước là hơn tỷ đồng. Từ tháng 7, dịch bùng mạnh tại nhiều địa phương trọng điểm kinh tế nên Bộ Tài chính dự báo thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô sản xuất, lắp ráp trong nước vào những tháng cuối năm khoảng tỷ đồng mỗi tháng. Tổng số thuế dự kiến được gia hạn là tỷ nhưng không ảnh hưởng đến ngân sách năm Minh

thuế đánh vào người sản xuất