Highlands Coffee tuyển dụng các việc làm hấp dẫn đang chờ bạn, ứng tuyển ngay để được xét duyệt hồ sơ tại Bắc Ninh. Hotline: 0865948099 hotro@bacninhjob.vn.
Mẫu Dẫn Chứng Về Sự Quan Tâm Chia Sẻ Chi Tiết, một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam ta. Có nhà văn nào đó đã từng nói "Nơi lạnh nhất Trái Đất không phải là bắc cực, mà là nơi không có tình thương".
Những Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc - Mẫu 1 Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc Trong Cuộc Sống - Mẫu 2 Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc Hay Nhất - Mẫu 3 Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc Ngắn Gọn - Mẫu 4 Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc Tiêu Biểu - Mẫu 5 Dẫn Chứng Về Giữ Gìn Bản Sắc Dân Tộc Đặc Sắc - Mẫu 6
Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu - Mẫu số 2. 1. Mở bài: - Dẫn dắt. - Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc. 2. Thân bài: a. (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi. * 4 câu thơ đầu: lời hỏi của
Trong hai ngày 19 và 20/10, nhận lời mời của Bộ trưởng Tài chính Thái Lan, Thứ trưởng Tạ Anh Tuấn đã thay mặt Bộ Tài chính Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 29 tổ chức tại Bangkok, Thái Lan. Cùng tham dự Hội nghị còn có đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các đơn vị thuộc
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào. - Nước trôi nước có về nguồn Mây đi mây có cùng non trở về? Mình về, ta gửi về quê Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai
9nUK3p. 此網頁需要支援 JavaScript 才能正確運行,請先至你的瀏覽器設定中開啟 JavaScript。 This webpage requires JavaScript to function properly. Please enable JavaScript in your browser settings. Cette page web nécessite JavaScript pour fonctionner correctement. Veuillez activer JavaScript dans les paramètres de votre navigateur. Esta página web requiere JavaScript para funcionar correctamente. Por favor, habilite JavaScript en la configuración de su navegador. Diese Webseite benötigt JavaScript, um ordnungsgemäß zu funktionieren. Bitte aktivieren Sie JavaScript in Ihren Browser-Einstellungen. Для корректной работы этой веб-страницы требуется поддержка JavaScript. Пожалуйста, включите JavaScript в настройках вашего браузера. このウェブページを正常に動作するにはJavaScriptが必要です。ブラウザの設定でJavaScriptを有効にしてください。 이 웹 페이지는 올바르게 작동하려면 JavaScript가 필요합니다. 브라우저 설정에서 JavaScript를 활성화하십시오. Tato webová stránka vyžaduje pro svůj správný chod podporu JavaScriptu. Prosím, povolte JavaScript v nastavení vašeho prohlížeče. Ez a weboldal a megfelelő működéshez JavaScript támogatásra szorul. Kérjük, engedélyezze a JavaScript használatát a böngészőjében. Questa pagina web richiede JavaScript per funzionare correttamente. Si prega di abilitare JavaScript nelle impostazioni del browser. Šī tīmekļa lapa darbībai ir vajadzīgs JavaScript atbalsts. Lūdzu, ieslēdziet JavaScript savā pārlūkprogrammas iestatījumos. Esta página da web requer JavaScript para funcionar corretamente. Por favor, ative o JavaScript nas configurações do seu navegador. Deze webpagina vereist JavaScript om correct te functioneren. Schakel JavaScript in uw browserinstellingen in. Ta strona wymaga obsługi JavaScript, aby działać prawidłowo. Proszę włączyć obsługę JavaScript w ustawieniach przeglądarki. Laman web ini memerlukan JavaScript untuk berfungsi dengan betul. Sila aktifkan JavaScript dalam tetapan pelayar anda. Halaman web ini memerlukan JavaScript untuk berfungsi dengan baik. Harap aktifkan JavaScript di pengaturan browser Anda. เว็บไซต์นี้ต้องการ JavaScript เพื่อทำงานอย่างถูกต้อง โปรดเปิด JavaScript ในการตั้งค่าบราวเซอร์ของคุณ Bu web sayfasının düzgün çalışması için JavaScript gereklidir. Lütfen tarayıcı ayarlarınızda JavaScript'i etkinleştirin. Trang web này yêu cầu JavaScript để hoạt động đúng. Vui lòng kích hoạt JavaScript trong cài đặt trình duyệt của bạn. Эн вэб хуудас нь зөв ажиллахын тулд JavaScript дэмжлэг авах шаардлагатай. Таны броузерын тохиргоонд JavaScript-ийг идэвхжүүлнэ үү. ဒီဝန်ဆောင်မှုစာမျက်နှာကိုမှားယွင်းရန် JavaScript ကိုလိုအပ်ပါ။ သင့်ရဲ့ဘောဒီကိုပြင်ဆင်ရန် JavaScript ကိုဖွင့်ပါ။ ບໍ່ສາມາດເຮັດວຽກເວັບໄຊນີ້ໄດ້ຖ້າບໍ່ມີການສະຫລັບ JavaScript. ກະລຸນາໃຊ້ການຕັ້ງຄ່າຂອງເວັບໄຊໃຫ້ເປີດ JavaScript ກ່ອນ. ទំព័រវេបសាយនេះត្រូវការ JavaScript ដើម្បីដំណើរការប្រើប្រាស់បានល្អ។ សូមបើក JavaScript នៅក្នុងការកំណត់របស់អ្នកក្នុងក 首頁 - Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại Việt Nam 駐越南台北經濟文化辦事處 Hot News Tin tức - Sự kiện Thông tin học bổng Taiwan News Hoạt động Lịch làm việc Video Bản đồShow Map Liên hệ
Phân tích Việt Bắc là một trong những nội dung cơ bản của chương trình học Ngữ Văn 12, thường xuất hiện trong các đề thi, kiểm tra lớp 12 và kì thi tốt nghiệp THPT cũng như thi vào đại học các giúp các em có thể dễ dàng nắm bắt được cách làm các dạng đề văn phân tích cơ bản về tác phẩm Việt Bắc, ở bài viết này Đọc Tài Liệu sẽ cung cấp cho các em nguồn thông tin kiến thức hữu ích bao gồm hướng dẫn từ các bước làm bài, xây dựng luận điểm dàn ý,... cho đến những bài văn mẫu tham khảo hay và đặc sắc vọng bài viết sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo bổ ích giúp các em thêm tự tin khi gặp các dạng bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu để đạt được điểm số cao. Giờ thì cùng bắt đầu...I. Hướng dẫn làm bài phân tích Việt Bắc cơ bản nhấtĐề bài Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Phân tích yêu cầu đề bài- Yêu cầu về nội dung phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ Việt Phạm vi tư liệu, dẫn chứng các câu thơ, từ ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu có trong bài thơ Việt Bắc của Tố Phương pháp lập luận chính Phân Hệ thống luận điểm bài thơ Việt Bắc- Luận điểm 1 Tâm trạng lưu luyến, lời nhắn nhủ của người ở Luận điểm 2 Những tâm sự, lời bịn rịn của người ra Luận điểm 3 Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm vào Việt Bắc Cách Kiến thức cần củng cố trước khi làm bài1. Về tác giả Tố Hữu- Tố Hữu 1920 - 2002 tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra tại Hội An, Quảng Nam, quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Cha là một nhà nho nghèo, sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ. Mẹ là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con. Cha mẹ chính là những người đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản và gia nhập Đoàn thanh niên Dân chủ Đông Dương năm Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trên mặt trận văn hóa và trong hệ thống chính trị Việt Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ Về quan điểm sáng tác+ Thơ Tố Hữu là tiêu biểu của quan niệm nghệ thuật cách mạng, luôn ca ngợi lí tưởng cách mạng, kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc, quyết tâm đuổi giặc cứu nước và thể hiện niềm vui chiến thắng và cuộc sống tươi đẹp của con người.+ Thơ Tố Hữu là tấm gương phản chiếu tâm hồn một người chiến sĩ cách mạng suốt đời phấn đấu, hi sinh vì tương lai tươi đẹp của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc của con Tác phẩm tiêu biểu Các tập thơ Từ ấy 1946, Việt Bắc 1954, Gió lộng 1961, Ra trận 1972, Máu và hoa 1977, Một tiếng đờn 1992, Ta với ta 1999,...- Một số nhận định về tác giả Tố Hữu+ “Nghĩ đến Tố Hữu, rực rỡ như vàng, như ánh sáng”; "Tố Hữu vững chắc quá, được toàn thể anh em văn nghệ sĩ kính phục" Nguyễn Huy Tưởng+ “Trong thơ Tố Hữu, nét nổi bật đáng quý là sự nhất trí. Nhất trí giữa đời sống và nghệ thuật. Nhất trí giữa tình cảm, tư tưởng và hành động. Nhất trí giữa con người với thời đại, với tập thể...”. Đặng Thai Mai+ "Tôi luôn luôn nghĩ Tố Hữu là người nghệ sĩ nhân dân. Thơ ông là bài ca vui bất tận." Nguyễn Quang Thiều+ "Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán." Trần Đăng Khoa+ "Với tư cách là người làm việc lâu năm với anh, tôi muốn nói một điều Yêu dân, yêu nước, yêu Đảng, yêu Bác, yêu người thân, yêu bạn bè, tình yêu bao la không bờ bến... Thời gian qua đi, tất cả đều có thể nhạt nhòa, chỉ có tình thương yêu con người và sự tôn trọng phẩm giá con người là tồn tại mãi mãi với thời gian. Phẩm chất ấy là cốt lõi của thơ Tố Hữu, của nhà cách mạng Tố Hữu, của phong thái Tố Hữu" Hà Xuân Trường+ "Thời đại ta đã may mắn có được nhà thơ Tố Hữu" Hoài Thanh2. Về tác phẩm Việt Bắc- Hoàn cảnh sáng tác Tháng 10-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc để ghi lại không khí bịn rịn nhớ thương của kẻ ở người Ý nghĩa nhan đề "Việt Bắc"Việt Bắc là một địa danh - là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Bắc khơi gợi niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước, về Trung ương, Chính phủ, Bác Hồ, về người cách mạng và nhân dân Việt Bắc đã đoàn kết một lòng để lập nên những chiến công vang đề "Việt Bắc" còn gợi nhắc những sự kiện, những kỉ niệm của một thời kì kháng chiến gian khổ mà hào hùng, lạc quan cùng những nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân với cách mạng và kháng chiến ở Việt chữ "Việt Bắc" như một sự hội tụ khắc sâu tình cảm thuỷ chung son sắc của nhà thơ - người cán bộ kháng chiến đối với quê hương. Đồng thời, đó là lời nhắn nhủ của nhà thơ rằng Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân tình thủy chung của cách mạng, của con người Việt Lập dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc chi tiếtDựa trên cơ sở hệ thống luận điểm bài thơ Việt Bắc đã thống kê ở phần I, các em hãy phân tách chúng thành các ý nhỏ hơn, các gạch đầu dòng để đi sâu vào cảm nhận, phân tích bài thơ Việt Mở bài phân tích Việt Bắc- Giới thiệu nhà thơ Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc+ Tố Hữu 1920 - 2002 sinh ra tại Huế và là một nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Cách mạng Việt Nam, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.+ Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954, là nỗi lòng của những người chiến sĩ cách mạng phải chia xa núi rừng Tây Bắc thân thuộc để chuyển về căn cứ mới.>>> Có nhiều cách mở bài khác nhau theo cách gián tiếp và trực tiếp, các em có thể tham khảo bài viết Tuyển tập những mở bài hay và sáng tạo về bài thơ Việt Bắc được Đọc Tài Liệu tổng hợp cho các em tiện theo Thân bài phân tích bài thơ Việt Bắca Luận điểm 1 Tâm trạng lưu luyến, lời nhắn nhủ của người ở Tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay 8 câu đầu+ Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về mười lăm năm "thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.+ Xưng hô "mình - ta" cách xưng hô quen thuộc trong ca dao dân ca, gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó, tạo không khí trữ tình cảm xúc.+ “Mười lăm năm” từ năm 1940 thời kháng Nhật khởi nghĩa Bắc Sơn đến tháng 10 năm 1954 khi rời Việt Bắc trở về Thủ đô.+ Điệp từ “nhớ” nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, thường trực, da diết.+ Hình ảnh "cây - núi, sông - nguồn" gợi mối quan hệ khăng khít, thủy chung, ân tình giữa kháng chiến và Việt Bắc.=> Người ở lại thiết tha, luyến tiếc, khơi gợi trong lòng người ra đi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.+ Từ láy "tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn" sự day dứt, lưu luyến, bối rối trong tâm trạng và hành động của người ra đi.+ “áo chàm” hoán dụ gợi hình ảnh bình dị, thân thương của những người dân Việt Bắc.+ Hành động "cầm tay" sự luyến tiếc và nghĩa tình keo sơn gắn bó giữa cách mạng và Việt Bắc, gợi nhớ những cuộc chia tay trong văn học trung đại nhưng đây là cuộc chia tay trong niềm vui chiến thắng.=> Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu Những kỉ niệm về Việt Bắc trong những năm kháng chiến 12 câu tiếp+ "suối lũ, mây mù, miếng cơm chấm muối" -> hình ảnh thực gợi nhớ lại sự gian khổ của cuộc kháng chiến, cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân Pháp.+ “Trám bùi… để già” mượn cái thừa để nói cái thiếu, gợi cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng.=> Tác giả nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.+ Phép đối, đảo ngữ “Hắt hiu… lòng son” -> gợi nhớ về mái tranh nghèo.=> Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thủy chung với cách mạng.+ 6 câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại -> câu hỏi đau đáu, khơi gợi, nhắc nhớ mọi người hãy luôn nhớ về Việt Bắc.+ "mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" các địa danh gắn liền với Việt Bắc, hình ảnh tiêu biểu của thủ đô kháng chiến.+ "mình đi…, mình về…, nhớ…" lặp đi lặp lại như lời nhắn gọi tha thiết, nhắc nhớ những kỉ niệm về một thời ở Việt Bắc.+ “Mình đi, mình có nhớ mình" đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người Chữ “mình” tha thiết bao hàm luôn cả kẻ ở và người đi, "mình" là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.=> Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình, thơ mộng, rất đỗi hào hùng trong nỗi nhớ của người ra Luận điểm 2 Những tâm sự, lời bịn rịn của người ra Nghĩa tình thủy chung, mặn mà, son sắt 4 câu tiếp+ “ta với mình, mình với ta” đại từ "mình - ta" được sử dụng linh hoạt nhằm thể hiện sự gắn bó máu thịt, thấu hiểu nhau giữa người đi và kẻ ở.+ "mặn mà", "đinh ninh" chỉ nghĩa tình đậm đà, bền chặt, trước sau như một của cách mạng đối với Việt Bắc.+ "bao nhiêu… bấy nhiêu" Từ ngữ so sánh gợi tình cảm bao la, chan chứa giữa cách mạng và Việt Nỗi nhớ thiên nhiên, con người ở Việt Bắc 28 câu tiếp+ “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian.+ “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,...=> Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.+ “Nhớ gì như nhớ người yêu” nỗi nhớ Việt Bắc được so sánh với nỗi nhớ người yêu, sắc thái cao nhất của nỗi nhớ.+ “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” sự đồng lòng cùng nhau san sẻ khó khăn gian khổ, ngọt bùi, đắng cay.=> Những con người dù gian khó, vất vả nhưng vẫn có tấm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến.+ “lớp học i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo” những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc+ "người thương đi về", "người mẹ nắng cháy lưng" những hình ảnh về con người Việt Bắc thân thương, cảm động.+ “người mẹ”, “cô em gái” nhớ những con người lao động mộc mạc, giản dị.=> Thiên nhiên và con người ở Việt Bắc luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi với tình cảm chân thành, tha thiết Nỗi nhớ về bức tranh tứ bình của Việt Bắc+ Mùa đôngHình ảnh hoa chuối đỏ tươi + người lao động trên đèo cao -> bình dị, khoẻ khoắn;Màu sắc xanh + đỏ + “nắng ánh” -> màu sắc ấm áp.+ Mùa xuânHình ảnh mơ nở trắng rừng + người đan nón -> đẹp, nên sắc trắng + trắng -> tinh khiết, thanh thanh hiệp vần “ơ” mơ - nở, “ưng” rừng - từng -> cảm nhận tinh tế, âm thanh của rừng mơ đồng loạt nở hoa.+ Mùa hạHình ảnh rừng phách đổ vàng + em gái hái măngMàu sắc vàngÂm thanh tiếng ve-> Vẻ đẹp đặc trưng rộn rã, rực rỡ của mùa hè.+ Mùa thuHình ảnh ánh trăngÂm thanh tiếng hát ân tình thuỷ chung-> Vẻ đẹp thanh bình, hiền hòa.=> Sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, giữa người và cảnh, cảnh và người cùng làm cho nhau thêm đẹp, làm cho bức tranh thêm sinh Nhớ cuộc kháng chiến anh hùng ở Việt Bắc 22 câu tiếp+ Thiên nhiên cùng con người sát cánh đánh giặc“Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” nhân hóa thiên nhiên thành một lực lượng kháng chiến"Phủ Thông, đèo Giàng" những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc-> Tình đoàn kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc đối với Cách mạng.+ Hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc“ta cùng đánh Tây”“cả chiến khu một lòng”“rầm rập như là đất rung” -> sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến.“quân đi điệp điệp trùng trùng” -> khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nổi."Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay" -> sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể.“dân công đỏ đuốc từng đoàn”=> Khí thế ra trận hào hùng, mạnh mẽ của cả một dân tộc trong trận chiến quyết định với kẻ thù.“tin vui thắng trận trăm miền... núi Hồng”-> Những chiến công, những niềm vui thắng trận to lớn, rộng khắp của cuộc kháng chiến.=> Bức tranh sử thi hoành tráng ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh Luận điểm 3 Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm vào Cách mạng Việt Bắc 16 câu cuối+ Câu hỏi tu từ "Ai về ai có nhớ không?" khơi gợi tình cảm thiêng liêng về Việt Bắc.+ "ngọn cờ đỏ thắm, sao vàng rực rỡ, cụ Hồ sáng soi, Trung ương, Chính phủ, mái đình, cây đa,…" => Những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng thể hiện cái nhìn lạc quan về tương lai của dân tộc.+ "Ở đâu… Nhìn lên…, Ở đâu… Trông về…" => Phép điệp nhấn mạnh Việt Bắc là cái nôi của cách mạng, là cội nguồn của sự sống.+ Biện pháp đối lập "u ám - sáng soi" đề cao vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh là chỗ dựa tinh thần tươi sáng nhất cho cách mạng và nhân dân Việt Nam.+ Cách xưng hô mình - ta…=> Niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Kết bài phân tích Việt Bắc- Khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ+ Nội dung Tình cảm lưu luyến, bịn rịn của những người cán bộ cách mạng với đồng bào Việt Bắc khi phải chia tay về xuôi; tình nghĩa thủy chung gắn bó, uống nước nhớ nguồn của những cán bộ cách mạng đối với thủ đô kháng chiến, quê hương cách mạng và người dân Việt Nam.+ Nghệ thuật Thể thơ lục bát đặc sắc của dân tộc; lối đối đáp với kết cấu đối đáp của ca dao trữ tình; đại từ xưng hô được sử dụng linh hoạt mình - ta; ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi; từ láy, tượng hình giàu hình ảnh; cách ví von so sánh thường gặp trong văn học dân mẫu dàn ý chung cơ bản trên đây, các em cũng có thể tham khảo thêm mẫu dàn ý và 20 bài văn mẫu đặc sắc phân tích Việt Bắc để hoàn thiện dàn ý riêng của mình cũng như mở rộng thêm vốn từ ngữ khi viết Sơ đồ tư duy phân tích bài Việt BắcCó thể tóm gọn những nội dung cơ bản cần phân tích cho bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc qua sơ đồ tư duy phân tích Việt Bắc sau đâyHướng dẫn phân tích Việt Bắc bằng sơ đồ tư duyIV. Các dạng đề phân tích Việt Bắc chuyên sâu theo từng đoạnDưới đây là một số dạng đề phân tích Việt Bắc cơ bản kèm theo các dạng phân tích đi sâu vào từng đoạn mà các em có thể gặp thường xuyên trong các đề thi, kiểm tra trên Phân tích Việt Bắc đoạn 1 8 câu đầuTố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ "Việt Bắc" là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. "Việt Bắc" là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ "tống biệt" của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi "Việt Bắc" ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Cùng phân tích 8 câu thơ đầu của Việt Bắc để cảm nhận rõ tình cảm của người ra đi và ở lại trong cuộc chia tay đầy cảm động đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ không mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, mà là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự thể hiện tinh tế và sâu sắc những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân li- Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?- Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay...Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi- Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu "Mình về mình có nhớ ta". "Mình về" là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm, "về" gợi đến sự chia li, đó là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì "mình" đứng ở đầu câu, còn "ta" đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa "ta" và "mình". Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi ấy của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ "nhớ", nó làm cho "mình" và "ta" dường như được xích lại gần nhau sở tạo nên nỗi nhớ ấy là "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. "Mười lăm năm ấy" gợi đến một quãng thời gian khó khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương ấy chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm "thiết tha mặn nồng". Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong "mười lăm năm ấy" giữa "ta" và "mình". Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi "Mình về mình có nhớ không" cũng có sự lặp lại gần giống câu thơ đầu. Tuy vậy, đối tượng hỏi không chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa "ta - mình" và nỗi nhớ dường như không còn chỉ hướng tới "ta", mà nỗi nhớ đó đã hướng vào đối tượng rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là không gian "núi rừng" và "sông nguồn". Câu hỏi gợi về không gian có "núi", có "nguồn" ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là không gian quen thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Không gian đó với người ra đi và người ở lại không còn là không gian vô hồn, vô cảm mà là không gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động "nhìn" và "nhớ". Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới hiện tại, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó mà người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở hiện tại đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra khi mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã thể hiện nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ "nhớ" xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ "nhớ" xuất hiện càng nhiều đã thể hiện cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng nhớ thương, ân tình tha thiết. Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để giãi bày tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai đối tượng đó có sự gắn bó khăng khít trong một thời kháng chiến và một vùng kháng rồi từ đó, người ra đi đáp lại người ở lại bằng bốn câu thơTiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay...Người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi đó mà thay vào đó người ra đi thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi "Tiếng ai tha thiết bên cồn". "Ai" là đại từ không xác định, có thể là nhân vật đang xuất hiện trước mắt người ra đi, quen thuộc với người ra đi - một con người cụ thể xuất hiện "bên cồn" trong buổi chia li. "Ai" có thể là bất cứ người dân Việt Bắc đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi. Dù hiểu theo cách nào thì ấn tượng tác động đến người ra đi là âm thanh tiếng nói tha thiết - đó chính là âm thanh rất đỗi ngọt ngào, thiết tha, sâu âm thanh đó dường như gọi về biết bao kỉ niệm, biết bao buổi trò chuyện tâm tình và âm thanh đó gọi về mối tình keo sơn gắn bó thân thiết giữa người ở lại với người ra đi. Chính âm thanh đó đã khiến cho người ra đi "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi". Câu thơ ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan đối lập giữa bên trong và bên ngoài. "Trong dạ" thì "bâng khuâng" còn hành động bên ngoài biểu hiện sự "bồn chồn" thấp thỏm của người ra đi, nhưng lại có sự tương đồng trong cảm xúc và hành động. Chính vì cảm xúc "bâng khuâng" thì mới có hành động "bồn chồn" đó cảm nhận của người ra đi, một hình ảnh bình dị, quen thuộc thường xuất hiện trong cuộc sống đời thường đó là hình ảnh "áo chàm". Hơn thế nữa chiếc "áo chàm" gợi đến sắc màu bền bỉ khó phai. Tác giả sử dụng hình ảnh hoán dụ "áo chàm" để chỉ người dân Việt Bắc và bởi vậy nói "áo chàm đưa buổi phân li" là nói về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa người Việt Bắc với người cách mạng. Mượn hình ảnh "áo chàm" dường như tác giả muốn nói đến tình cảm thủy chung sắt son khó phai mờ của người dân Việt Bắc với người chiến sĩ cách ấn tượng đậm nét nhất với người ra đi chính là hành động "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...". Trước tiên là hành động "cầm tay nhau" là hành động quen thuộc và rất đẹp của những ai khi chia li, nó thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết và đồng thời thể hiện sự lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Họ cầm tay nhau trong tâm trạng nghẹn ngào, vì thế không nói lên lời. Dấu ba chấm xuất hiện cuối dòng thơ như nốt nặng không lời, nhưng chính nó lại quý giá hơn rất nhiều những lời nói thường ngày bởi cái cầm tay đã nói lên tất cả những lưu luyến, bịn thơ kết lại đoạn thơ có nhịp thơ thay đổi khác thường. Sự thay đổi của nhịp thơ không chỉ tạo nên sự ngập ngừng cho giọng điệu của câu thơ mà còn tạo nên cái ngập ngừng của tình cảm. Và đồng thời sự khác lạ trong nhịp thơ ấy đã diễn tả sự khác lạ trong diễn biến tình cảm của kẻ ở người Phân tích Việt Bắc khổ 3Như Xuân Diệu đã nhận định rằng, "Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên”. Nhắc đến tên của Tố Hữu, người yêu thơ sẽ nhớ ngay đến một nhà thơ tiêu biểu với những chủ đề thơ trữ tình cách mạng trong nền văn học Việt nam. Thơ của ông là lẽ sống, là tình cảm của con người với đời lính, với sự nghiệp giải phóng đất nước. Nổi bật nhất là khúc tình ca "Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10/ khi cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước rời khỏi căn cứ địa Việt Bắc quay trở về Hà Nội, từ những tâm tư tình cảm của tác giả, ông đã chắp bút tạo nên một tác phẩm tuyệt vời. Mở đầu khổ ba bài thơ, thi sĩ đã bộc bạch ngay những ngày tháng kỉ niệm giữa "ta” và "mình”"Mình đi có nhớ những ngàyMưa nguồn suối lũ những mây cùng mùMình về, có nhớ chiến khuMiếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”Trải qua cùng nhau với biết bao khó khăn gian khổ, càng giúp cho tình cảm đôi ta trở nên khăng khít gắn bó hơn. Chính vì thế, tâm trạng quan tâm lo lắng của người ở lại khi bày tỏ lo sợ người ra đi sẽ nhanh chóng quên đi những kỉ niệm ấy. Trở về với chốn phồn hoa đô thị, "mình” - người lính cán bộ liệu còn nhớ tới "mưa nguồn suối lũ” hay "mây cùng mù”. Ở chốn đô thành ấy, đâu còn hình bóng của quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ mây mù giăng lối, đâu còn chiến khu xưa cũ nơi chúng ta đã cùng kề vai sát cánh chiến đấu. "Miếng cơm chấm muối” - dẫu cuộc sống có khó khăn, vất vả gian truân nhưng chúng ta vẫn cùng chia sẻ, để chiến đấu đánh tan "mối thù nặng vai” - những kẻ địch gian ác đang ngày đêm xả bom chiếm nước của dân tộc tiếp dòng chảy cảm xúc, Tố Hữu bộc bạch những tâm tư ấy qua những áng thơ sau“Mình về, rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để già”Nhà thơ tiếp tục sử dụng biện pháp hoán dụ "rừng núi nhớ ai” – trong khi đó chính là hình ảnh của người ở lại nơi đây. Nỗi nhớ luôn da diết trong lòng của nhân dân Việt Bắc với những người lính cụ Hồ. Thiên nhiên cũng nhuốm màu của nhớ thương, để lan tỏa thấm đẫm vào cả "trám rụng - măng già”. Mình về sao khiến cả vật cả người trở nên trống trải, chẳng còn thiết tha làm gì nữa. Những món ăn thường nhật của bộ đội ta qua mười năm kháng chiến là trám bùi, măng mai giờ đây cũng chẳng còn dịp để xuất hiện bên mâm cơm của người được biết bao câu hỏi trong lòng cứ thế tuôn trào dồn dập“Mình đi, có nhớ những nhàHắt hiu lau xám, đậm đà lòng sonMình về, còn nhớ núi nonNhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt MinhMình đi, mình có nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?"Cụm từ "nhớ những nhà” là hình ảnh ẩn dụ gợi cho người đọc cảm nhận được tâm trạng băn khoăn liệu rằng cán bộ có nhớ những khóm nhà mà người đã ở, đã nghỉ ngơi hay chăng chứ nhân dân nơi đây thì nhớ cán bộ nhiều lắm, nhớ tới nỗi "hắt hiu lau xám”. Từ láy "hắt hiu” kết hợp cùng cây cối chốn rừng núi càng làm bật lên khung cảnh hoang sơ, đơn độc giữa chốn thiên nhiên hùng vĩ. Thế nhưng, đối lập với cảnh đìu hiu ấy, vẫn có tấm lòng sắt son của con người luôn tràn đầy ấm áp tình non nơi này vẫn đợi người quay lại, từ thời kì kháng chiến "kháng Nhật” tới "thuở còn Việt minh” thì mình với ta vẫn luôn cạnh nhau. Những địa danh lịch sử hào hùng như "Tân Trào Hồng Thái” năm nào luôn hiện hữu trong tâm trí của chúng ta. Đi đâu cũng nhớ về cội nguồn dân tộc, nhớ về nơi đã nuôi dưỡng, sẻ chia biết bao niềm vui nỗi buồn là điều mà người dân Việt Bắc hi vọng các anh cán bộ luôn khắc biệt, kết thúc đoạn thứ ba, Tố Hữu nhắc tới ba từ "mình" nghe thật tha thiết và chân thành. Từ "mình" đầu tiên và thứ hai để chỉ người lính cán bộ, còn từ còn lại để nhắc chung tới toàn thể nhân dân. Ta phải biết rằng, dân và ta đều hòa chung làm một khi tình cảm của chúng ta đều hướng về nhau. Những chiến thắng vang dội mà ta đã cùng nhau đạt được phải luôn được lưu truyền, đó cũng là một lời mà nhân dân muốn nhắc các anh không được ngủ quên trên chiến thắng, không được phản bội lại những tâm tình, lời hứa mà các anh đã để lại nơi đây. Việt Bắc chính là cái nôi nuôi dưỡng cách mạng, là nguồn động viên lớn lao cho các anh trong thời kỳ làm cách mạng. Bởi vậy, những lời người ở lại muốn nhắc nhở tới người về xuôi lại càng thắm thiết sâu câu thơ trong khổ ba đã kết thúc trong những lời nhắc nhở, kỷ niệm chân thành. Tố Hữu đã khéo léo lồng ghép những tâm tư tình cảm của đôi bên vào nhịp thơ 2/2/2-4/4 đều đặn, khiến cho nhịp thơ đồng điệu cùng những lời thổn thức tâm sự của nhân dân Việt bắc. Ông cũng muốn nhắc nhở cả bản thân ông và thế hệ mai sau phải luôn nhớ đến cội nguồn dân tộc, dù đói dù no thì cũng phải luôn kề vai sát cánh xây dựng vì mục tiêu đất nước hòa bình, hạnh Phân tích Việt bắc đoạn 4Trong suốt đường đời hay đường thơ, nhà thơ Tố Hữu luôn mang đến cho độc giả những tác phẩm mang đậm chất chính trị và trữ tình. Đến với đoạn trích "Việt Bắc”, bạn đọc có thể cảm nhận được những tình cảm mà người miền xuôi dành cho người ở lại trong ngày bịn rịn chia tay. Nhắc nhớ những tình cảm chân thành ấy, người đi đã có những dòng hồi tưởng nhớ về cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc qua khổ thơ người và thiên nhiên Việt Bắc dù trong lao động hay trong chiến đấu cũng luôn có sự gắn bó hòa quyện với nhau. Khổ thơ trên đã lột tả được vẻ đẹp của bức tranh tứ bình Việt Bắc, trong đó, thiên nhiên và con người có mối quan hệ gắn bó, không tách rời. Bức tranh thiên nhiên ấy đã được mở ra từ nỗi nhớ“Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng người”Nỗi nhớ của nhà thơ đã được tái hiện một cách chân thực và gần gũi nhất. Cảnh và người luôn có sự hòa quyện, gắn bó với nhau. Cho nên, nỗi nhớ da diết mà tác giả gửi gắm, vừa là nỗi nhớ thiên nhiên, lại là nỗi nhớ những con người Việt Bắc bình dị mà thân thiên nhiên Việt Bắc được tái hiện trong nỗi nhớ của nhà thơ là sự mở đầu của bức tranh tứ bình. Bức tranh thiên nhiên có màu sắc, đường nét, âm thanh, gợi ra cả một miền thương nhớ. Cảnh vật vô cùng đơn sơ, nhưng lại gợi sự gần gũi, thân thuộc. Thường theo quy luật xuân, hạ, thu, đông, mùa xuân đáng nhẽ ra phải là sự mở đầu cho nỗi nhớ, nhưng nhà thơ Tố Hữu lại lựa chọn mở đầu nỗi nhớ bằng hình ảnh đại diện cho mùa đông“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”Hồi ức của tác giả trở về trong giờ phút chia tay. Làm sao ta quên được hoàn cảnh lịch sử mùa đông năm 1954, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân kháng chiến. Bức tranh mùa đông của Việt Bắc được miêu tả với màu xanh bạt ngàn của núi rừng, màu đỏ của hoa chuối như những ngọn đuốc sáng rực cả một nền xanh. Vậy là, mùa đông ở Việt Bắc không còn mang vẻ lạnh lẽo, mà luôn ấm áp, tràn đầy sự sống. Hình ảnh con người Việt Bắc cần cù, hăng say trong lao động cũng được tác giả thể hiện một cách rất tinh tế. Hình ảnh đồng bào Việt Bắc lúc đi rừng làm rẫy, hình ảnh thơ tạo sức gợi nên ý nghĩa hình ảnh con người lao động làm chủ thiên tranh mùa xuân ở Việt Bắc đã được gợi nhớ theo dòng hồi tường“Ngày xuân mơ nở trắng rừngNhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”Không gian lại được mở rộng ra, hình ảnh những đồi hoa mơ nở trắng rừng. Màu trắng mang sự tinh khôi, khởi sắc của mọi sự sống đã trải rộng, bạt ngàn trên các núi đồi. Cảnh thiên nhiên gợi ra cho người đọc cảm giác thơ mộng, bâng khuâng. Khoảng thời gian mùa xuân chính là khoảng thời gian vận động trong suốt 4 mùa, gợi sự sinh sôi, nảy nở. Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên vô cùng thơ mộng, trữ tình. Gắn với thiên nhiên, con người Việt Bắc cũng hiện lên rất đẹp. Từ “chuốt” gợi sự tỉ mỉ, cần mẫn, chịu khó của người dân nơi đây khi bắt tay vào công xuân lại đi qua, nhường chỗ cho sự xuất hiện của mùa hạ“Ve kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mình”Bức tranh gợi cho người đọc có sự cảm nhận cả về thị giác lẫn thính giác. Âm thanh quen thuộc gợi sự xuất hiện của mùa hè là tiếng “ve”. Đồng điệu với nó là màu vàng bạt ngàn của rừng phách, từ “đổ” gợi sự dàn đều, rộng khắp của màu sắc. Bức tranh ấy hiện lên mang vẻ đẹp của sự tráng lệ, lung linh trong sắc vàng của nắng hè. Cảnh thiên nhiên vừa đẹp, mà lại vừa mang vẻ lãng mạn bởi có sự xuất hiên của bóng dáng người thiếu nữ. Đọc những vần thơ, ta có thể cảm nhận được nét dịu dàng, mềm mại, uyển chuyển của cô gái Việt Bắc đi hái măng giữa rừng tre, nứa trong khúc nhạc rừng, “một mình” nhưng chẳng cô đơn. Thiên nhiên và con người đã hòa quyện và tô điểm cho rừng đêm trăng thu huyền diệu, thơ mộng, trữ tình chính là câu kết cho đoạn thơ“Rừng thu trăng rọi hòa bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”Không gian được mở ra tràn ngập ánh trăng thanh bình, ánh trăng ấy đang soi sáng khắp núi rừng chiến khu. Dưới ánh sáng của vầng trăng hiền dịu, có đâu đây ngân nga tiếng hát “ân tình” làm xao xuyến lòng người. Tiếng hát là tiếng lòng, bộc lộ tâm hồn thủy chung, tình nghĩa của con người Việt thể nói, đây là một trong những khổ thơ nổi bật nhất trong đoạn trích. Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc được miêu tả chân thực và rõ nét, có sự hòa quyện tuyệt vời. Con người - thiên nhiên luôn hòa quyện, gắn bó mà không có sự tách rời. Mỗi câu thơ là một phiên cảnh với những nét màu tài Phân tích Việt Bắc vận dụng lý luận văn học chuyên sâuTố Hữu là nhà thơ chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Dù những tác phẩm thơ ca của ông thường viết về Đảng, về cách mạng hay chiến tranh nhưng thơ Tố Hữu không hề khô khan cứng nhắc, ngược lại thơ ông luôn tha thiết và thấm đẫm tình người. Đúng như Chế Lan Viên từng nói "Thơ Tố Hữu là thơ Cách mạng chứ không phải thơ tình yêu... nhưng thơ anh là thơ của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng trái tim của một người say đắm”. Trong đó, Việt Bắc là một trong những đỉnh cao thơ Tố Hữu, cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Tố Hữu đã xây dựng nên một bài thơ nói về tình nghĩa đối với quê hương cách mạng, là tiếng nói của tình cảm, tình yêu đối với quê hương, đất nước, đối với nhân Bắc được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là giai đoạn chuyển giao khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rời chiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội. Bài thơ được đặt vào một hoàn cảnh rất đặc biệt, đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa những con người đã từng gắn bó khăng khít, tình nghĩa cùng gánh vác trên vai nhiệm vụ dân tộc. Mối tình giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc được Tố Hữu diễn tả như một mối tình riêng. Ông đã mượn thể hát đối đáp rất dân tộc, ngôn ngữ đậm đà màu sắc để thể hiện tình cảm của mình, qua đó khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, con người Việt Bắc ân tình, ân đầu bài thơ là lời hỏi đáp của người ở lại và người ra đi nhằm khơi gợi những kỉ niệm ân tình giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ về xuôi trong suốt mười lăm năm gắn bó keo sơn. Bốn câu thơ đầu là lời của nhân dân Việt Bắc hỏi người ra đi"Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?Câu thơ mở đầu mang âm hưởng của ca dao, dân ca chan chứa tình thương của người ở lại với người ra đi, hỏi để gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó. Trong câu hỏi này "mình” là chỉ người ra đi, “ta” là người ở lại. “Mình” ở đầu câu, “ta” ở cuối câu, tưởng xa mà gần bởi được liên kết bởi từ "nhớ". Nỗi nhớ ấy bắt nguồn từ cơ sở "mười lăm năm ấy”. Người ở lại hỏi người ra đi có nhớ tới những lần đồng cam cộng khổ, gắn bó cùng nhau chia ngọt sẻ bùi mới mình hay không? Bốn chữ "thiết tha mặn nồng” đã cho thấy phần nào tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ thật thủy chung, sâu nặng. Bởi vậy hỏi nhưng mục đích chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi là để thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như như hai câu thơ đầu là lời gợi nhắc về kỉ niệm "mười lăm năm ấy” gắn bó, thì ở hai câu thơ sau là lời nhắc nhở chân tình và cũng là lời dặn dò kín đáo của người ở lại. Câu hỏi tu từ thứ hai đã hướng ta tới không gian, đối tượng hỏi không còn bó hạn hẹp trong mối quan hệ mình - ta nữa mà nỗi nhớ đó đã hướng vào cả cây, sông và núi nguồn. Không gian đó với người ra đi và người ở lại đều chứa đựng những kỉ niệm gắn bó khó quên. Động từ "nhớ" và "nhìn" được điệp lại hai lần tác động mạnh vào cảm xúc của con người. Phải chăng cách gợi nhớ khéo léo này chính là lời dặn dò, mong muốn rất đỗi kín đáo của người ở lại Việt Bắc là cội nguồn của cách mạng, là quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa, xin người về đừng bốn câu thơ, ta thấy được cách tận dụng từ ngữ linh hoạt của Tố Hữu, ông đã tận dụng rất khéo léo đạo lí "Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc để nhắc nhở con cháu đời sau không được quên công ơn của thế hệ cha ông đi trước. Sau lời hỏi để gợi nhắc một cách khéo léo của người ở lại là lời giãi bày, bộc bạch cảm xúc của người ra đi. Dù không trực tiếp nhưng đầy bâng khuâng xao xuyến"Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Aó chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"Những cặp từ láy "bâng khuâng”, "bồn chồn” diễn tả trạng thái tâm lý nhớ thương, luyến tiếc khiến lòng chẳng thể yên. Như Tú Xương đã viết"Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”...Tiếng “ai” ấy lại chất chứa biết bao yêu thương, chẳng thể chỉ cụ thể một người, bởi tình cảm ấy là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc. Tố Hữu đã khai thác tiếng "ai” ấy một cách xuất sắc, khi để lại âm vang trong lòng người về. Nó khiến cho tâm trạng con người càng trở nên nôn nao, những dòng cảm xúc cứ ào về không thôi. Cách ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối đối lập giữa bên trong và bên ngoài làm cho hiệu quả diễn đạt thêm súc tích. Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn ấy còn được thể hiện hết sức tinh tế qua nhịp điệu hai câu tiếp theo"Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một chút nhịp điệu, như một đảo phách trong âm nhạc. Màu "áo chàm” đặc trưng của những con người chân chất miền núi Tây Bắc. Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo, nghèo vật chất nhưng luôn giàu tình cảm. Tấm áo ấy đã chất chứa biết bao mồ hôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để chiến đấu, nuôi dưỡng các anh lính cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc. Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm ơn công lao của các anh, chỉ là bóng dáng của những con người lao động nhưng sao vẫn khiến cho ta không khỏi cảm kích, biết ơn. Tình cảm bịn rịn ấy còn được thể hiện qua hình ảnh "cầm tay”. Cầm tay là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết, cầm tay để nói lên cảm xúc trong lòng. Nó giống như một nốt nhạc trầm trong một khuôn nhạc bổng, là nhịp rơi của cảm xúc sâu lắng. Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc cảm xúc hết sức đa dạng, sâu lắng của người đi kẻ ở. Nhịp thơ nhẹ nhàng, du dương để diễn tả một cách trọn vẹn, khéo léo những tình cảm chân thành ấy đã cho thấy tài năng nổi bật của Tố Hữu trong số những thi sĩ tài hoa của Việt thể nói Việt Bắc không chỉ là khúc tình ca mà còn là khúc hùng ca thể hiện ân tình của nhà thơ đối với khu căn cứ địa của cách mạng Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua khổ thơ thứ hai - lời tâm tình của người dân Việt Bắc về những ngày kháng chiến đã đồng cam cộng khổ cùng cán bộ trong suốt mười lăm nămMình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai? Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Minh đi mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đaBốn câu thơ đầu là lời nhắc nhở về kỉ niệm trong kháng chiến gian khổ mà cán bộ và nhân dân Việt Bắc đã cùng nhau trải qua. Điệp từ "nhớ" được lặp lại hai lần cùng hai câu hỏi tu từ "có nhớ những ngày” đã gợi nên những kỉ niệm gian khổ nhưng vô cùng tình nghĩa. Mình có còn nhớ không những ngày tháng khắc nghiệt ấy "mưa nguồn, suối lũ, mây mù”, những lúc thiếu thốn ảm đạm "ăn tuyết nằm sương” mà cán bộ và nhân dân đã trải qua. Nhưng những gian khổ ấy đã gắn kết "mình - ta” lại với nhau có phúc cùng hưởng có nạn cùng chịu, gạt đi những khó khăn để cùng thực hiện nhiệm vụ là bảo vệ đất đây cái chung luôn đặt lên trên cái riêng đó là tinh thần lớn của thời đại. Bốn câu thơ tiếp theo người Việt Bắc tiếp tục khắc ghi vào lòng người đi những câu hỏi tu từ khơi gợi nên những kỉ niệm gắn bó với núi rừng, thiên nhiên và con người nặng tình nặng nghĩa. Ẩn sâu trong bốn câu thơ người Việt Bắc hỏi người ra đi như còn chưa thỏa mãn, họ còn hỏi chính mình. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh hoán dụ "Rừng núi nhớ ai” để chỉ người dân Việt Bắc và nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với những người kháng chiến, với Đảng, chính phủ...Ở đây không chỉ có con người mang nỗi nhớ mà đến cả thiên nhiên cũng rất nặng tình nghĩa. Mình về khiến núi rừng bỗng trở nên trống vắng, ngay cả "trám bùi”, "măng mai” mà cũng không ai thu hái. Không chỉ gợi kỉ niệm với thiên nhiên mà người dân Việt Bắc còn gợi kỉ niệm với con người làm cho cảm xúc càng thêm xao xuyến khôn nguôi. Nhà thơ đã hướng nỗi nhớ của mình về những con người Việt Bắc qua câu thơ "Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”. Câu thơ đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, làm nổi bật hơn khung cảnh vắng vẻ, hoang sơ nơi núi rừng. Nhưng đối lập lại bên trong những căn nhà ấy lại ẩn chứa tấm lòng thủy chung son sắc của nhân câu thơ cuối người Việt Bắc đã gợi nhắc lại những sự kiện lịch sử gắn với những địa danh, những tên gọi đã trở thành điểm mốc của chiến đấu Tân Trào, Hồng Thái... nhằm nhắc nhở người về xuôi rằng Việt Bắc là nơi có mặt trận Việt Minh lãnh đạo Cách mạng đánh đuổi giặc Pháp, là khu căn cứ quan trọng của cách mạng. Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ sâu sắc rằng giữa người Việt Bắc và cán bộ đã có sự gắn kết tha thiết, hòa nhập vào nhau làm thơ tiếp theo là lời thề son sắt, thủy chung và nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng trữ tình, là lời bộc bạch trực tiếp của cán bộ về xuôi đối với người dân Việt BắcTa với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng đương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi... Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháu lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều đuối xa,...Những kí ức như ào ạt dội về, mỗi kỉ niệm đều vô cùng rõ nét như mới diễn ra ngày hôm qua vậy. Người chiến sĩ đã khẳng định tấm lòng son sắt thủy chung, tình cảm dạt dào và nghĩa tình sâu nặng như nguồn nước trong mát đổ về bản làng. Người chiến sĩ còn nhớ đến vầng trăng tròn đầy sau những rặng núi xa sau bản, nhớ những vạt nắng vàng như màu mật đổ xuống những cánh đồng ruộng bậc thang ngào ngạt mùi lúa chín, nhớ những sáng tinh sương mịt mù trong mây và khói tỏa, nhớ từng dòng suối cánh rừng...Thiên nhiên núi rừng Việt Bắc lại một lần nữa hiện lên qua từng câu thơ hết sức hùng vĩ thơ mộng khiến cho ai đi xa mà chẳng nhớ về. Ở đây chỗ sâu sắc nhất trong tình nghĩa gắn bó giữa nhân dân và cán bộ là tình cảm yêu thương đùm bọc, cùng san sẻ từng củ sắn, miếng cơm, manh áo, tấm chăn... Vật chất ít ỏi nhưng tình người lúc nào cũng đong đầy. Các chi tiết nghệ thuật ở đây vừa có tính hiện thực vừa có tính khái quát". Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày tháng đen tối ấy, chính là vì nó nói với trái tim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thực sự. "Xuân Diệu quả thật nói không sai, đọc thơ Tố Hữu dù ông đang viết về những khó khăn, thiếu thốn khi tham gia chiến đấu nhưng tinh thần cách mạng, ý chí kháng chiến luôn hiện hữu trong từng lời thơ, làm cho ý chí nhân dân càng mạnh mẽ. Đặc biệt sự xuất hiện hình ảnh người mẹ địu con lên rẫy đã khắc họa thành công hình tượng người mẹ lam lũ vất vả cùng đức hi sinh cao quý cho cách mạng của những người mẹ Việt Việt Bắc còn là nhớ âm thanh đặc trưng tiếng mõ rừng, tiếng chày,... âm thanh của sự thanh bình yên ả ở Việt Bắc. Cả đoạn thơ tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi nhớ, tình cảm của người cán bộ đối với nhân dân Việt Bắc một cách đầy tha thiết, chân thực. Kết cấu thơ trùng lặp làm ta nhớ tới những câu ca dao xưaNhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống thanKhổ thơ tiếp theo là bức tranh tứ bình đa màu sắc hòa quyện giữa thiên nhiên và con người được Tố Hữu miêu tả bằng ngòi bút trữ tình đặc sắcTa về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Hai câu thơ đầu mang cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi về Việt Bắc nhưng sau đến với những câu thơ tiếp theo là một bức tranh về thiên nhiên đầy màu sắc. Bức tranh thứ nhất Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưngCâu thơ mở ra một không gian rộng lớn thiên nhiên Việt Bắc. Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng đại ngàn, nổi bật lên hình ảnh "hoa chuối đỏ tươi. Bởi thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ, trái lại, gần gũi, thân thiết với con ngườiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt lưngCũng là cách điểm xuyết những hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh, thật là một nét tài tình của Tố Hữu thể hiện trong thơ. Nghệ thuật điểm xuyết của tác giả còn trở lên độc đáo hơn càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyển động. Bức tranh thứ haiNgày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đang nón chuốt từng sợi giangKhác hẳn với bức tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian Ngày xuân. Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian Ngày xuân mở nở trắng rừng. Cách điệp âm mơ/nở; trắng/rừng cùng với hình ảnh của hoa mơ màu trắng tạo ra một không gian vừa rộng lớn nhẹ nhàng và thanh thoát. Ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả độc đáo ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng hoa đỏ, nắng ảnh để diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực tiềm ẩn của thiên cái nền không gian rộng lớn và háo hức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt động có vẻ tỉ mỉ...Người đan nón chuốt từng sợi là hình ảnh thực. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh người đan nón chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ như gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng dễ nhận thấy của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhặt, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm. Bức tranh thứ baVe kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mình. Câu thơ mở đầu bằng âm thanh tiếng ve như giúp người đọc cảm nhận được đã có bước biến chuyển về thời gian sang hè. Ý thơ trong câu to như vừa có âm thanh rộn ràng, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc sinh động ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiênVe kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hòa quyện, cùng tôn vinh lẫn nhau. Đan hòa với nhau mà làm nổi bật lên cho nhau. Và chính sự hài hòa đó đã tạo nên chất thơ ân tình của Tố Hữu. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trưng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực tại. Bức tranh thứ tưRừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian "rừng thu”. Ứng với mỗi câu thơ đặc sắc và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên mùa đông, mùa xuân, mùa hạ. Không ngoại lệ câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên mùa thu. Nhưng có lẽ bức tranh thu là bức tranh cuối của bộ tứ bình cũng là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơnRừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông, rộng lớn nhưng không hề lạnh lẽo. "Trăng rọi hòa bình” là hình ảnh vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình ấy, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có niềm tin, tự do. Và trong cuộc sống đó còn có cả tình nghĩa thủy chung khi đã có tự do thì ta vẫn không quên những ngày gian công của đoạn thơ là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật cùng với thể thơ lục bát với âm điệu ngọt ngào, sâu lắng. Cách miêu tả hình ảnh sống động, nhiều phép liệt kê, phép điệp tất cả đã làm nên một đoạn thơ giàu hình tượng về thiên nhiên và con người Việt Bắc, mở rộng hơn nữa là tình yêu quê hương, đất nước của tác giả. Quả thật đúng như ông đã từng nói "Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống thật đầy”, ông đã thể hiện rất sâu sắc tình yêu đối với nơi núi rừng Việt Bắc, nơi gắn bó suốt chặng đường hoạt động cách mạng của mình. Sau những câu thơ miêu tả về thiên nhiên thơ mộng nơi đây thì tác giả lại tập trung viết về nỗi nhớ khi hoạt động cách mạng vô cùng sôi nổi của mìnhNhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng câu núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dàyKhí thế ấy đã tạo nên những chiến thắng vẻ vang, hàng loạt địa danh vang lên, mỗi nơi đều là một chiến tích thắng lợi. Điệp từ "nhớ" cùng thể thơ lục bát mang âm hưởng sâu lắng đã diễn tả dào dạt nỗi nhớ của tác giả về những lần hoạt động cách mạng cùng nhân dân và đồng đội. Chế Lan Viên cũng từng viết về sự gắn bó với chiến khuKhi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn Nhưng trên tất cả tình dân quân thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh vào đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đuốc đỏ từng đoàn Bước chân nát đá, muốn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De núi thơ là không khí ra trận và tin vui chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Câu thơ vang lên rất đỗi tự nhiên tạo cảm giác khỏe khoắn, hùng tráng chứa đầy niềm kiêu hãnh. Đó là niềm tự hào về những con đường Việt Bắc đã và đang được giải phóng sau bao ngày tháng kháng chiến vất vả. Những từ láy "đêm đêm”, “rầm rập” cùng phép so sánh "đất rung" tất cả đã tạo nên một bức tranh tổng hợp của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Đoàn quân nối dài trên những con đường Việt Bắc thật hùng vĩ như vươn rộng khắp mọi nẻo đường. Hình ảnh "ánh sao đầu súng” làm ta liên tưởng tới chi tiết "đầu súng trăng treơ” trong thơ Chính Hữu, đây là một hình ảnh thực mang vẻ đẹp lãng mạn khi người lính hành quân trong đêm, những ngôi sao đang trên trời cùng làm bạn. Nguyễn Đình Thi cũng từng viết về khung cảnh lãng mạn ấyNgôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa hàng quânNgọn đuốc trên tay quân dân không chỉ thắp sáng lên cả bầu trời Việt Bắc khi ấy mà nó còn thắp lên cả những thế hệ, thắp lên tương lai, thắp lên niềm tin và hi vọng về một chiến thắng không xa. Sức mạnh của cả một đoàn quân khí thế đến nỗi có thể làm cho đá nát lửa bay không một thế lực nào có thể ngăn cản được. Bằng nghệ thuật phóng đại cường điệu, nhà thơ Tố Hữu dường như đã tái hiện lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ để rồi giờ đây chỉ qua những dòng thơ ngắn gọn, ta như trở về với một thời hào hùng của cha bóng tối vây quanh ngọn đèn pha như thắp lên niềm tin niềm hi vọng của quân dân về một tương lai tốt đẹp hơn. Cuối cùng, sau những tháng ngày chiến đấu gian lao và khổ cực quân và dân ta đã giành được thắng lợi vô cùng vẻ vang. Hạnh phúc vỡ òa không từ ngữ nào có thể diễn tả. Từ Hòa Bình, Tây Bắc hay Điện Biên, nhân dân như vui cùng một niềm hạnh phúc. Điều này chứng tỏ sự gắn bó máu thịt sự đoàn kết không thể nào phá rời của quân và dân ta khi đất nước gặp khó khăn. Nếu ở Tây Tiến những địa danh căn cứ của bộ đội ta được nhắc đến với niềm thương nhớ thì Tố Hữu lại gọi tên những địa danh gắn với những chiến công lẫy từng làm bừng tỉnh lòng người. Có thể nói đây là điểm độc đáo trong thơ Tố thơ cuối khép lại là cảnh Việt Bắc sau kháng chiến Điện Biên Phủ thắng lợi"Ai về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang. Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu... Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng doi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”Sau chiến thắng vẻ vang của toàn dân ta, khắp nơi hân hoan trong màu sắc rực rỡ tươi vui dưới ánh nắng và lá cờ đỏ sao vàng. Trung ương Đảng và Chính phủ thu xếp trở về thủ đô, trong không khí nhộn nhịp, miền Bắc ngày một đổi mới với chính sách mới của Đảng và nhà nước "Giữ đê, phòng hạn, thu lương/Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...”. Đồng thời đoạn thơ cũng là lời ngợi ca những công lao vĩ đại của Bác Hồ kính yêu, là lời tri ân sâu sắc với miền núi rừng Việt Bắc thân thương, dù mai này đã về thủ đô nhưng trong tim những người chiến sĩ cách mạng luôn giữ một góc dành cho Việt Bắc, dành cho "Mái đình Hồng Thái câu đa Tân Trào”.Bài thơ Việt Bắc với những hình ảnh đẹp về thiên nhiên, con người Việt Bắc đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc. Bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, thể thơ lục bát mang âm hưởng sâu lắng, giọng thơ sôi nổi, Tố Hữu đã mang đến cho người đọc những cảm xúc khó tả, sự khâm phục tinh thần gắn kết, đồng lòng đánh giặc của quân và dân ta. Quả thật không sai khi nói rằng "thái độ toàn tâm toàn ý với cách mạng là nguyên nhân chính làm nên thành công của nhà thơ Tố Hữu” Hoài Thanh."Thơ là đi giữa nhạc và ý. Rơi vào vực ý, thơ rất ăn sâu nhưng dễ khô khan. Rơi vào vực nhạc dễ say đắm lòng người nhưng dễ nông cạn. Tố Hữu là nhà thơ giữ thế quân bình giữa hai lưu vực ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, thức người trong ý” Chế Lan Viên. Tình yêu quê hương, đất nước cùng với nỗi niềm với nhân dân Việt Bắc đã tạo nên một áng thơ Việt Bắc đầy cảm xúc sâu lắng khiến ai đọc qua cũng phải xao xuyến, bồi hồi. Bài thơ là một tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu trong sự nghiệp thơ ca cách mạng và là một tiếng ca bất hủ trong lòng người yêu thơ ca Việt Phân tích Việt Bắc bức tranh tứ bìnhTố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm. “Việt Bắc” được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình Việt Bắc bằng thơ tuyệt đẹp trong “Việt Bắc”.Xuyên suốt bài thơ “Việt Bắc” là dòng tâm tư, tình cảm chan chứa và sâu lắng của Tố Hữu dành cho quân và dân từng tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, đời sống bình dị, cả những con người chân chất Việt Bắc qua lời thơ Tố Hữu. Phải có một tình cảm da diết, phải là người “nặng” tình thì Tố Hữu mới thổi hồn vào từng câu đối đáp bằng thơ lục bát nhuần nhuyễn như thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng Việt Bắc qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu. Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của “xứ Tiên” thơ được mào đầu bằng câu đối đáp nhẹ nhàng giữa “ta” - “mình”Ta về mình có nhớ taTa về ta nhớ những hoa cùng ngườiThật khéo léo và tinh tế khi Tố Hữu truyền đạt tình cảm một cách kín đáo như thế này. Ngôn ngữ gần gũi, cách diễn tả nhẹ nhàng cũng đã khiến người đọc thấy rất thấm. Tố Hữu hỏi “người” nhưng thực ra là hỏi “mình” và câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Lời mào đầu sâu sắc này sẽ dẫn người đọc lần lượt khám phá nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc trải dọc theo 4 dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy tin yêuRừng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt lưngNgười đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”. Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cao đã tạo thành một bức tranh mùa đông rạng rỡ, đầy hi hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây Bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp trên những con đường màu sắc ấy. Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố HữuVe kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mìnhVà cuối cùng chính là bức tranh mùa thu nhẹ nhàngRừng thu trăng rọi hòa bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thủy chungMùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ Bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt Bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy vậy với bốn cặp thơ lục bát ngắn gọn, bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống. Tác giả thật tài tình, khéo léo, vốn hiểu biết rộng cũng như tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ. Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi Phân tích Việt Bắc ta về mình có nhớ taViệt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình”. Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Giữa trăm nghìn tình cảm nhớ thương tha thiết ấy, tác giả đặc biệt dành những cảm xúc đẹp nhất cho cảnh và người Việt BắcTa về, mình có nhớ taTa về ta nhớ những hoa cùng ngườiRừng xanh hoa chuối đỏ tươièo cao nắng ánh dao gài thắt xuân mơ nở trắng rừngNhớ người đan nón chuốt từng sợi giangVe kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mìnhRừng thu trăng rọi hòa bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thủy đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơTa về, mình có nhớ taTa về ta nhớ những hoa cùng ngườiCâu hỏi tu từ mình có nhớ ta vừa là lời đối thoại vừa là cái câu nối xuống câu dưới và đấy cũng là cái cớ để bày tỏ tấm lòng, nỗi niềm của mình. Với Tố Hữu người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của “hoa cùng người”. Từ xưa đến nay, trong văn chương nghệ thuật, hoa và trăng là biểu tượng cho cái đẹp của thiên nhiên tạo đây hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Hoa ở bên người để người mang gương mặt sắc màu của hoa. Người bên hoa để cho hoa mang hồn người. Hoa và người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này. Chính điều ấy đã tạo nên cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ. Trong bốn cặp lục bát còn lại, câu sáu dành cho nhớ hoa, câu tám dành cho nhớ người. Cảnh và người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp đoạn thơ trên, chúng ta có cảm giác đoạn thơ được tác giả viết không hề trau chuốt mà như cứ tuôn chảy từ một tấm lòng nhớ thương da diết của người cán bộ về xuôi. Qua đây mà cảnh và người cùng những hoạt động của nó ở núi rừng chiến khu Việt Bắc cứ lần lượt hiện lên có đủ bốn mùa trong năm, mỗi mùa có một màu sắc, âm thanh chủ đạo tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc khi lắng dịu, khi rực rỡ chói chang, khi rộn ràng náo đây ta thấy bức tranh mùa đông hiện về với màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại. Cái màu “đỏ tươi” của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến. “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn. Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất. Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hành và vững chãi Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt đông qua đi thì mùa xuân lại về mang bao nhiêu điều tốt lành đến cho con người, báo hiệu những niềm vui, sức sống âm thầm đang trỗi dậy. Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng”, “trắng rừng” được viết theo phép đổi trật tự cú pháp và từ trắng được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa đó chứng tỏ đây là những giờ phút hoa mơ nở rộ nhấtÔi sáng xuân nay, xuân bốn mốtTrắng rừng biên giới nở hoa mơBác về im lặng, con chim hótThánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơTố HữuNổi bật trên cái nền của hoa mơ nở trắng ấy, là hình ảnh con người với công việc của mùa xuân đan nên những chiếc nón tình nghĩa gửi tặng bộ đội, dân công “nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo của con người Việt tranh trong nỗi nhớ của Tố Hữu không chỉ có màu đỏ tươi của hoa chuối, màu xanh ngắt của rừng, màu trắng muốt của hoa mơ, mà còn có cả màu vàng rực của rừng phách đang đổ “ve kêu rừng phách đổ vàng”. “Đổ vàng” có nghĩa là chuyển sang màu vàng nhưng nhiều và đậm hơn gợi cảm giác đột ngột. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu qua bài Việt lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; mà trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cùng gợi lên được vẻ đẹp chịu thương chịu khó của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mátRừng thu trăng rọi hòa bìnhNhớ ai tiếng hát an tình thủy chung“Trăng rọi hòa bình” là ánh tráng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu kháng chiến. Những ai đã từng đi qua những tháng ngày “mưa bom bão đạn”, đi qua bao đêm “vầng trăng” cũng “quầng lên một vầng lửa máu”, thì mới thấy hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hòa bình đó. Vì vậy tả cảnh trăng rừng mà không thấy vắng lặng, lanh lẽo; mà trái lại đã gợi lên không khí rạo rực đắm say. Bởi giữa ánh trăng rừng ấy, đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình thủy chung của ai đó càng làm cho ánh trăng như sáng hơn và cùng lung linh, thắm đượm tình người Việt Bắc là đoạn thơ vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật. Nó xứng đáng là đoạn thơ hay nhất Việt Bắc. Đoạn thơ cũng thể hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu trữ tình sâu lắng, tha thiết ân tình và mang đậm tính dân tộc. Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, nhịp nhàng, uyển chuyển; câu nọ gọi câu kia, ý nọ gọi ý kia cứ tuôn trào lên dào dạt cảm xúc qua cách xưng hô "mình - ta", một cách xưng hô truyền thống thắm thiết tình nghĩa. Nhạc điệu dịu dàng trầm bổng khiến cho cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng êm ái như một khúc hát ru kỷ niệm. Đặc biệt từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần, mỗi lần một khác và sắc độ cứ tăng dần làm cụ thể hơn tấm lòng của người ra đi đôi với cảnh và người Việt những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi, thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về Phân tích Việt Bắc nhớ gì như nhớ người yêuTố Hữu, một cái tên không hề xa lạ với bạn đọc yêu thơ. Quả thật là vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định Tố Hữu đã và sẽ luôn là ngọn cờ tiên phong tiêu biểu cho nền thơ ca Cách mạng Việt Nam. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ gắn bó chặt chẽ với nhau, sự hòa hợp giữa chất trữ tình và chính trị được ẩn hiện qua từng tác phẩm mà nổi bật nhất là bài Việt Bắc. Đây là bài thơ ghi lại những tình cảm sâu nặng, những nỗi nhớ da diết của một người cán bộ về xuôi với con người thiên nhiên Tây Bắc. Phân tích và cảm nhận khổ thơ thứ 5 Việt Bắc sau đây để thấy tình cảm nhớ nhung của tác giả với cảnh, người cùng cuộc kháng chiến“Nhớ gì như nhớ người yêuTrăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nươngNhớ từng bàn khói cùng sươngSớm khuya bếp lửa người thương đi vềNhớ từng rừng nứa bờ treNgòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầyTa đi ta nhớ những ngàyMình đây ta đó, đắng cây ngọt bùi”Việt Bắc là căn cứ cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. Thiên nhiên và đồng bào Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng và Chính phủ suốt 15 năm trời. Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào khoảng thời gian tháng 10/1954, là lúc các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời khỏi Tây Bắc để trở về Hà Nội. Đây là một bài thơ dài ghi lại tình cảm lưu luyến của cán bộ và nhân dân và cũng là lời khẳng định tình cảm thủy chung của người cán bộ về xuôi với Việt Bắc, với cuộc kháng chiến, với cách trích trên nằm ở khổ ba thuộc phần 1 của bài thơ nói về những kỷ niệm cùng nỗi nhớ với thiên nhiên con người Việt Bắc. Một nỗi nhớ da diết, khôn nguôi được tác giả hình dung thật lạ“Nhớ gì như nhớ người yêuTrăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”Một chữ “gì” hàm chứa biết bao điều, phải chăng đó chính là nỗi nhớ thiên nhiên, với nhân dân cùng quãng thời gian kháng chiến đầy ắp kỷ niệm. Nhớ “như nhớ người yêu”, hình ảnh so sánh thật đầy ý nghĩa, nỗi nhớ sao thật dai dẳng triền miên, luôn thường trực trong tâm trí. Một khung cảnh hiện ra đã hoàn toàn khẳng định đối tượng được nhớ đến - Việt Bắc "Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” rồi sau đó là những hình ảnh miêu tả không gian thơ mộng đậm chất núi rừng Việt Bắc“Nhớ từng bản khói cùng sươngSớm khuya bếp lửa người thương đi về”Hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc được liệt kê đến từng chi tiết. Rõ ràng tác giả vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm cùng khung cảnh Việt Bắc. “Người thương”, hai chữ thôi nhưng chứa đựng biết bao ân tình. Đây chính là những con người Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho cán bộ trong suốt một quãng thời gian dài gian khó. “Bếp lửa” - hình ảnh của một gia đình ấm cúng thường thấy, phải chăng tác giả đã xem nơi đây như là gia đình thứ hai của mình. Vần chân “sương” và “người thương” làm cho giọng điệu câu văn trở nên da diết, diễn tả một nỗi nhớ bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời tiếp tục là nỗi nhớ, nhưng dường như ngày càng sâu đậm hơn với những tên gọi địa danh gắn liền với quá khứ cách mạng mà tác giả từng trải qua“Nhớ từng rừng nứa bờ treNgòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”Dù là một nơi nhỏ trong chốn núi rừng Việt Bắc bao la, nhưng dường như trong ký ức của tác giả nó cũng trở nên quan trọng, không bao giờ có thể quên. Một sự khẳng định chắc chắn… không bao giờ có thể quên“Ta đi ta nhớ những ngàyMình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”Dù bản thân có đi xa, dù có ở nơi chốn nào thì vẫn sẽ luôn nhớ về “mình”. Ngôn từ xưng hô thật giản dị mà thân thương. “Mình” cùng “ta” nào có thể quên được những “đắng cay ngọt bùi” đã trải qua. Hình ảnh ẩn dụ “đắng cay” chính là những khó nhọc, gian nan mà nhân dân cùng cán bộ đã phải trải qua trong suốt thời kỳ kháng chiến, còn niềm vui chiến thắng không gì khác chính là “ngọt bùi”. Từng nỗi nhớ như tràn ngập trong tâm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một tình cảm sâu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người thương”. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sâu hơn sự nhớ nhung nghìn trùng tha thiết của tác giả đối với Việt đoạn thơ mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ của Tố Hữu. Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt để bộc lộ một cảm xúc thương nhớ dạt dào. Cách gieo vần, sử dụng tài tình thể thơ lục bát đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái. Việc liệt kê một loạt những hình ảnh cùng địa danh của Việt Bắc đã khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ - thi sĩ đối với quê hương thứ hai của thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son, chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những người Việt Nam trong kháng chiến. Với những câu thơ dạt dào cảm xúc, Tố Hữu đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc không chỉ là tình cảm công dân xã hội mà còn là sự sâu nặng như tình yêu lứa đôi. Nhờ vậy Việt Bắc đã trở thành thành phần tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kháng chiến chống những vần thơ đậm chất dân tộc, nỗi nhớ cùng tình cảm chung thủy sắt son giữa người cán bộ với nhân dân, thiên nhiên Việt Bắc cùng cuộc kháng chiến được khắc họa rõ nét. Thật hiển nhiên, Tố Hữu xứng đáng trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Phân tích Việt Bắc những đường Việt Bắc của taBài thơ Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu và thơ ca kháng chiến chống Pháp, thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng của kẻ ở người đi đầy lưu luyến vấn vương thương nhớ. Bài thơ không chỉ ngợi ca những tình cảm điển hình của con người kháng chiến mà còn làm tái hiện lại một cách chân thực và sinh động bức tranh “Việt Bắc ra trận” rất hùng vĩ qua những vần thơ đầy hào hùngNhững đường Việt Bắc của taĐêm đêm rầm rập như là đất rungQuân đi điệp điệp trùng trùngÁnh sao đầu súng bạn cùng mũ nanDân công đỏ đuốc từng đoànBước chân nát đá, muôn tàn lửa bayNghìn đêm thăm thẳm sương dầyĐèn pha bật sáng như ngày mai ở câu thơ đầu tiên mở đầu đoạn thơ tác giả đã nêu lên cái nhìn khái quát chung cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đây là một cuộc chiến tranh sáng ngời chính nghĩa hợp với ý trời lòng dân. Cho nên lực lượng của ta ngày càng trưởng thành lớn mạnh không ngừng. Từ một đội quân trên dưới 30 người xuất phát từ cây đa Tân Trào hôm nào, dưới sự chi huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, hôm nay chúng ta đã có một đội quân hùng mạnh liên tiếp gặt hái được những chiến công chói lọi Thu Đông, Sông Lô, Biên Giới…Giờ đây, chúng ta đang chuẩn bị tổng phản công bằng một chiến dịch lịch sử. Chúng ta hoàn toàn làm chủ chiến trường Việt Bắc cả về thế lẫn lực. Cho nên đoàn quân ra trận hôm nay xuất phát từ mọi ngả đường Việt Bắc như những gọng kìm nhằm bao vây quân giặc đang co cụm ở những cứ điểm cuối cùngNhững đường Việt Bắc của taĐêm đêm rầm rập như là đất rung“Những đường” chứ không phải “một đường” và Việt Bắc là “của ta”. Câu thơ bình dị mà chất chứa biết bao niềm tự hào về quang cảnh ra trận và khí thế của ta trên chiến thơ thứ hai mở ra một bối cảnh khác, đó là ngày kháng chiến chống Pháp, máy bay địch chủ yếu hoạt động ban ngày. Do đó ta phải hành quân đêm “xưa là rừng núi là đêm” Tố Hữu. Trên các nẻo đường Việt Bắc đêm nối đêm cứ “rầm rập” tiến quân ra trận. Từ láy “rầm rập” là một từ tượng thanh rất gợi cảm. Nó diễn tả bước chân đi đầy khí thế hăng say và sức mạnh áp đảo của một tập thể người đông đúc có đội ngũ chỉnh tề. Với từ “rầm rập” đặc sắc ấy, cuộc ra trận của quân ta bỗng trở thành một cuộc duyệt binh, diễu binh hùng trángXuân hãy xem! Cuộc diễn binh hùng vĩBa mươi mốt triệu nhân dânTất cả hành quânTất cả thành chiến thế mà bước chân của đoàn quân ấy đêm đêm như làm rung chuyển cả mặt đất. Hình ảnh thơ mang đậm màu sắc thần cái nhìn chung ở câu một và hai đến đây, tác giả đi vào cái nhìn cụ thể. Nếu câu trên, tác giả tả khí thế ra trận của quân ta qua ấn tượng thính giác, thì các câu sau, tác giả tả bằng thị giác “Quân đi điệp điệp trùng trùng”. Từ láy “điệp điệp trùng trùng” thật giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi lên trong ta hình ảnh những đoàn quân ra trận nối dài vô tận và rất hùng vĩ như những dãy núi kế tiếp nhau này nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã viếtTừ nơi em gửi tới nơi anhNhững đoàn quân trùng trùng ra trậnNhư tình yếu nối trời vô tậnỞ đây ta lại bắt gặp một hình ảnh thơ được viết với bút pháp cường điệu mang đậm màu sắc anh hùng ca. Vì vậy sức mạnh khí thế của đoàn quân ra trận đã được nâng ngang tầm với sức mạnh của thiên nhiên sông núi.“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”Câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng sâu xa. Trước hết nó diễn tả đoàn quân đi trong đêm, đầu súng lấp lánh ánh sao trời. Nhưng đó cũng là lấp lánh ánh sao lý đi bộ đội sao trên mũMãi mãi là sao sáng dẫn đườngVũ CaoHình ảnh tươi sáng ấy kết hợp với hình ảnh chiếc mũ nan giản dị trang bị còn thiếu thốn của anh bộ đội, tạo cho anh một vẻ đẹp bình dị mà cao cả, bình thường mà vĩ đại. Nhà thơ Chính Hữu cùng đã có câu thơ rất hay “Đầu súng trăng treo”.Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. Cho nên trong cuộc tổng phản công hôm nay có đủ mọi binh chủng, tầng lớp ra trận. Tiếp theo những binh đoàn bộ đội, là dân công tiếp tế lương thực, đạn dược. Cùng như những người chiến sĩ rầm rập lên đường, những nam nữ dân công cũng vào trận đầy khí thế và sức mạnh. “Nát đá” được viết theo phép đảo ngữ, từ dùng rất bạo khoẻ vừa gợi lên được những gánh hàng rất nặng vừa nói lên bước chân đầy sức mạnh tiến công của họ. Ngày nào dân ta mơ ước “Trông trời, trông đất, trông mây… trông cho chân cứng đá mềm” thì giờ đây niềm mơ ước ấy đã trở thành hiện thực kì diệu ở chiến trường Điện Biên.“Muôn tàn lửa bay” - một hình ảnh rất đẹp. Đoàn dân công đi dưới ánh đuốc, có “muôn tàn lửa bay”. Đó là lửa của đuốc đang bay, hay có cả ánh từ trái tim của người anh, chị dân công hỏa tuyến? Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng được nhiều hình ảnh giàu màu sắc tạo hình vừa chân thực, vừa bay bổng. Đoàn dân công đi vào chiến dịch mà như thể đi trong đêm hội hoa đăng. Thật đẹp đẽ biết bao mà cũng tự hào biết bao về khí thế và niềm vui ra trận của quân ta. Đúng “cách mạng là ngày hội của quần chúng” Mác.Hai câu thơ cuối cùng của đoạn thơ cho ta thấy khí thế khẩn trương của cuộc kháng chiếnNghìn đêm thăm thẳm sương dàyĐèn pha bật sáng như ngày mai lênTiếp theo đoàn dân công là những đoàn xe chở vũ khí đạn dược ra chiến trường. Xe nối đuôi nhau, đèn pha bật sáng trưng như ánh sáng ban ngày. Chỉ bằng một hình ảnh ấy, Tố Hữu đã diễn tả được cái đông đảo hùng mạnh của lực lượng cơ giới quân ta. Hai câu thơ có hai hình ảnh đối lập “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” với “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” đã làm nổi rõ được sự trưởng thành vượt bậc của quân ta và niềm tin tất thắng của những người ra trận. Mới hôm nào, chúng ta phải mai phục, nương náu nơi rừng sâu, núi thẳm hàng ngàn đêm tăm tối gian khổ “thăm thẳm sương dày” để có giờ phút bừng sáng quật khởi đầy niềm tin chói lọi bằng tám câu thơ, Tố Hữu đã khắc họa được một bức tranh cả dân tộc ra trận bằng cuộc chiến tranh nhân dân thật hùng tráng. Bức tranh không chỉ làm sống dậy một thời kỳ hào hùng của dân tộc ở căn cứ địa Việt Bắc đang chuẩn bị cho một chiến công “lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” mà còn đem lại cho ta niềm tin yêu quê hương cách mạng anh hùng. Nó xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất của Việt Bắc.Cô Nguyễn Thị Thanh Huyền, GV THPT chuyên Hùng Vương, Việt Trì, Phú Thọ>>> Tìm đọc tham khảo thêm top 5 bài văn hay phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta do Đọc Tài Liệu tổng hợp để có thêm tư liệu cho bài làm của mình Phân tích Việt Bắc thầy NhậtTố Hữu một hồn thơ dân tộc, một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam. Có thể nói những tác phẩm của ông không chỉ thể hiện tư tưởng, lẽ sống của bản thân mình mà qua đó ta còn thấy được những sự kiện quan trọng của cách mạng nước nhà. Tháng 10 - 1954 sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ bộ đội ta phải chuyển lực lượng thủ đô và chia tay với chiến khu Việt Bắc. Kẻ ở người đi lòng không khỏi nhớ thương nuối tiếc tình quân dân trong mười lăm năm kháng chiến. nhân sự kiện trọng đại cùng với tâm trạng nỗi niềm ấy Tố Hữu đã viết bài thơ Việt đầu bài thơ Việt Bắc là cuộc chia tay của những người kháng chiến và những người dân nơi đây“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...”Tám câu thơ đầu là khung cảnh cũng như tâm trạng của cuộc chia tay. Bao giờ cũng vậy “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm ấy thế mà nay những người chiến sĩ đành phải cất bước ra đi. Mảnh đất gắn bó như thế bây giờ cũng phải chia tay. Cặp xưng hô "mình - ta" thể hiện sự gần gũi thân thiết của cản bộ và người dân. Cái tình cảm ấy giống như những người thân trong gia đình mình câu thơ đầu là lời của người ở, những người dân Việt Bắc hỏi đầy lưu luyến rằng người chiến sĩ có còn nhớ mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy. Không biết rằng những người chiến sĩ về có còn nhớ không, nhớ con người, nhớ núi rừng nơi đây. Những người chiến sĩ cách mạng cũng như đáp lại những ân tình ấy. Trong lòng người chiến sĩ ấy cũng lưu luyến những kỉ niệm nơi đây không khác gì so với người dân. Các chiến sĩ như cảm nhận được sự tha thiết trong câu hỏi của những người dân ấy. Lòng các chiến sĩ bâng khuâng, bồn chồn không muốn thể nói các từ láy ấy đã thể hiện phần nào cảm xúc trong lòng người chiến sĩ. Nghệ thuật hoán dụ với hình ảnh “áo chàm” chính là để chỉ người dân Việt Bắc bịn rịn trong màu áo ấy đưa tiễn các chiến sĩ về với thủ đô. Kẻ ở người đi mà cầm tay nhau nhưng lại không biết nói lên điều gì. Có lẽ không cần nói mà cả hai đều biết được những ý nghĩa trong lòng rồi trong hoàn cảnh ấy toàn thể những con người ở lại cất lên lời nói để nhắc lại những kỉ niệm trong mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”Vẫn tiếng gọi mình thiết tha những người dân Việt Bắc nhắc lại những ngày mưa nguồn suối lũ về, cả trời đất mây mù che kín. Khoảnh khắc khó khăn ấy người dân luôn có những chiến sĩ kề bên. Hay người chiến sĩ kia về thì có nhớ đến chiến khu hay không, chiến khu ấy nghèo chỉ có cơm chấm muối thế nhưng nó tràn đầy những niềm yêu thương cưu mang đùm bọc của nhân dân nơi trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn như thế miếng cơm chấm muối kia là đã quá đầy đủ rồi. Mối thù nặng vai người chiến sĩ, người dân như san sẻ gánh nặng ấy cho người chiến sĩ. Những người chiến sĩ về Hà Nội có còn nhớ đến rừng núi đất trời nơi đây. Và bây giờ trám bùi thì để rụng còn măng mai để già. Những gì của thiên nhiên Việt Bắc vốn là để cho những chiến sĩ cách mạng thì giờ đây người đi những thứ ấy lại để rụng để từ "nhớ... như" điệp đi điệp lại nhiều lần như vang vào trong lòng người những nhớ thương không muốn rời. Cặp xưng hô mình - ta như biến hóa thành nhiều nghĩa, cứ lúc thì chỉ người ở lại nhưng lúc lại chỉ người ra đi. Điều đó thể hiện sự yêu thương gắn bó của những con người nơi đây với các anh chiến sĩ. Kẻ ở như thâu tóm cả thiên nhiên và con người Việt Bắc với những tình cảm của một tấm lòng son sắc không phai. Những địa danh được nhắc đến như chứng minh cho những trận chiến thắng mà các anh chiến sĩ đã lập nên tại những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh ...Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa...”Tố Hữu cũng học cách nói dân dã như chính những người nhân dân nơi đây vậy. Dù người chiến sĩ cách mạng ra đi thế nhưng trong lòng vẫn không thể nào quên được những kỉ niệm tình cảm ấy. Nghĩa tình giữa kẻ ở và người đi tựa như nước trong con suối kia vậy. Nó dào dạt ào ạt mãi mãi. Và những người chiến sĩ vẫn mãi đinh ninh một lời thề sắc son với người dân Việt kỉ niệm gắn bó như được thuật lại trong từng câu nói của người ra đi. Từ kỉ niệm về bát cơm thì sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Nhớ cả những người mẹ Việt Bắc với dáng hình địu con lên nương hái bắp. Một vẻ đẹp cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân. Không những thế cả những giây phút cùng nhau học cái chữ quốc ngữ nữa. Đó là thái độ trật tự nghiêm túc của tất cả mọi người. Và những giờ liên hoan trong ánh đuốc lập lòe, những ngày tháng ấy như mãi khắc sâu vào trong tâm trí của người ra đi. Để mãi khi về đến thủ đô gió ngàn vẫn không sao quên tiếng mõ rừng chiều cùng chày đêm nện cối. Qua đây ta thấy được những tấm lòng của cả hai bên dành cho nhau vô cùng nồng ấm và tha anh chiến sĩ lại kể tiếp về những hình ảnh thiên nhiên nơi đây hiện lên qua những lời kể ấy thật sự rất đẹp. Những câu thơ như vẽ lên một bức tranh tứ quý nơi đây, bốn mùa thiên nhiên hiện lên vô cùng đẹp“Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi èo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”Có thể nói rằng xưng hô "mình - ta" lại một lần nữa được thay đổi, "ta" ở đây chính là những người chiến sĩ cách mạng. Còn "mình" chính là những người dân ở lại. Những người chiến sĩ ấy cũng đã hỏi những người ở lại rằng có nhớ họ không. Hỏi như thế nhằm thể hiện sự lưu luyến yêu thương với mảnh đất và con người ở đây. Không biết rằng họ có nhớ không còn những người chiến sĩ lại nhớ cả hoa cùng người. Hoa kia chính là để chỉ cho thiên nhiên Việt câu hỏi và sự bày tỏ tình cảm của mình ấy, những người chiến sĩ nhắc đến những cảnh vật và hoạt động của con người Việt Bắc gắn liền với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Thế nhưng nhà thơ lại chọn miêu tả thiên nhiên và con người nơi đây vào mùa đông trước bởi vì họ đến đây vào mùa đông và ra đi cũng vào mùa đông. Mùa đông hiện lên với hình ảnh của những hình ảnh của rừng xanh và màu đỏ tươi của hoa chuối. Con người hiện lên với vẻ đẹp kiên cường chinh phục tự mùa xuân thì cảnh Việt Bắc hiện lên với hình ảnh hoa mơ trắng tinh khiết khắp rừng, con người thì hiện lên với vẻ đẹp của sự cần mẫn trong lao động. Mùa xuân qua đi mùa hè lại đến thiên nhiên được thay từ màu trắng hoa mơ thành màu vàng của rừng phách. Người con gái hái măng một mình. Đến mùa thu thiên nhiên lại ngập tràn trong ánh trăng rằm soi sáng. Người chiến sĩ nhớ đến những người nhân dân Việt Bắc với khúc hát ân tình thủy vậy qua từng ấy câu thơ thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên thật đẹp như đang níu giữ bước chân người ra đi. Thế rồi hàng loạt những địa danh gắn liền với những hoạt động cách mạng của những người chiến sĩ được nhà thơ liệt kê ra như để khắc sâu vào trong tâm khảm mỗi người chiến sĩ về tình quân dân đã làm nên chiến thắng vang dội“Nhớ khi giặc đến giặc lùngRừng cây núi đá ta cùng đánh TâyNúi giăng thành lũy sắt dàyRừng che bộ đội rừng vây quân thùMênh mông bốn mặt sương mùất trời ta cả chiến khu một về ai có nhớ không?Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo GiàngNhớ sông Lô, nhớ phố RàngNhớ từ Cao - Lạng nhớ sang Nhị Hà...”Chính thiên nhiên cũng như đang che chở cho những người con Việt Nam. Những núi đá dựng thành chiến hào thành quách để che chở cho người chiến sĩ và nhân dân nơi đây khỏi những bom đạn của quân thù. Và khi ấy cả bộ đội cả dân quân đều cùng nhau làm nên lịch sử. Trên dưới một lòng quyết tâm đánh địch. Người về nhưng trong tâm trí vẫn nhớ đến những khoảnh khắc đánh trận và những địa danh thế rồi không ai bảo ai cả kẻ ở người đi đều nhớ đến những ngày ráo riết chuẩn bị hành quân cho cuộc chiến đấu chống lại chiến dịch của thực dân Pháp. Khi ấy chính là lúc tình quân dân thể hiện rõ nhất“Những đường Việt Bắc của taêm đêm rầm rập như là đất rungQuân đi điệp điệp trùng trùngÁnh sao đầu súng bạn cùng mũ nanDân công đỏ đuốc từng đoànBước chân nát đá, muôn tàn lửa đêm thăm thẳm sương dàyèn pha bật sáng như ngày mai vui chiến thắng trăm miềnHòa Bình, Tây Bắc, iện Biên vui vềVui từ ồng Tháp, An KhêVui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc. Tất cả đồng lòng như một, "ánh sao" để chỉ người chiến sĩ còn "mũ nan" chính là những người dân quân Việt Bắc. Cả hai cùng đồng lòng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời Việt Bắc. Ngọn đuốc ấy như một lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước đánh đuổi kẻ thù. Khí thế của tất thảy với sức mạnh giống như là nát biện pháp nghệ thuật phóng đại, sức mạnh của nhân dân ta như được thể hiện rõ hơn. Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả, cuộc sống khó khăn như đêm tối vậy. Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật sáng lên như thể hiện một niềm tin vào tương lai tươi sáng của những nhân dân ta. Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc. Bọn giặc kia sẽ phải cút ra khỏi đất nước ta trả lại cho nhân dân ta một cuộc sống tự do và toàn vẹn lãnh là sau bao nhiêu khổ cực khó khăn nhân dân ta đã dành được chiến thắng. Tin vui ấy vui trăm mình, từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên cũng như chung vui với niềm chiến thắng ấy. Tất cả những địa danh ấy đều như thể hiện niềm vui của cả kết cho niềm vui lẫn niềm nhớ thương lưu luyến không muốn rời ấy nhà thơ cất lên những niềm tự hào về dân tộc. Đồng thời đó cũng là những giây phút nhớ về cảnh sinh hoạt Đảng, biết bao nhiêu việc bàn luận ở hang động núi rừngAi về ai có nhớ không?Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa trưa rực rỡ sao vàngTrung ương, Chính phủ luận bàn việc côngiều quân chiến dịch thu đôngNông thôn phát động, giao thông mở đườngGiữ đê, phòng hạn, thu lươngGửi dao miền ngược, thêm trường các khu...Ở đâu u ám quân thùNhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng soiỞ đâu đau đớn giống nòiTrông về Việt Bắc mà nuôi chí lăm năm ấy ai quênQuê hương cách mạng dựng nên Cộng hòaMình về mình lại nhớ taMái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”Ngày những người chiến sĩ trở về với miền xuôi nghe trong lòng vẫn bâng khuâng nhớ đến những ngày tháng cùng nhau kháng chiến. Những cuộc họp những niềm vui đều được thể hiện trong những câu thơ cuối này. Lá cờ đỏ sao vàng như chứng minh cho thắng lợi của nhân dân ta. Ở đâu còn rợp bóng quân thù thì ở đó có Đảng và Bác vì thế mà tất cả hãy trông về miền Bắc mà nuôi chí bền. Vì chỉ khi có chí mới làm nên được mọi việc, thắng trận ngay cả khi quân thù có đủ điều kiện hơn ta về mọi mặt. Mười lăm năm kháng chiến sẽ còn mãi trong lòng những người chiến đấu và cả nhân dân ở đây nữa. Bao nhiêu gian khổ là bấy nhiêu tình vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụ thể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được.Nguồn Lớp văn thầy Nhật10. Phân tích Việt Bắc nhớ khi giặc đến giặc lùngTố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống. Tố Hữu có nhiều tập thơ với nhiều bài thơ có giá trị, trong đó có bài thơ “Việt Bắc”. Đoạn thơ sau là nỗi nhớ về một Việt Bắc trong kháng chiến thật hào hùngNhớ khi giặc đánh giặc lùngRừng cây núi đá ta cùng đánh TâyNúi giăng thành lũy sắt dàyRừng che bộ đội, rừng vây quân thùMênh mông bốn mặt sương mùĐất trời ta cả chiến khu một lòngAi về ai có nhớ không ?Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo GiàngNhớ sông Lô, nhớ Phố RàngNhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...Bốn câu thơ đầu, người cán bộ nhớ về thiên nhiên, núi rừng Việt BắcNhớ khi giặc đánh giặc lùngRừng cây núi đá ta cùng đánh TâyNúi giăng thành lũy sắt dàyRừng che bộ đội, rừng vây quân thùTrong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cũng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn với bốn câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần như tạo thành thế hiểm của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành “Địa linh nhân kiệt” kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc khu Việt Bắc với thiên nhiên khắc nghiệt, vừa hùng tráng vừa thơ mộng ở cặp lục bát tiếp theo là hình ảnh thiên nhiên, đất trời Việt Bắc trong giai đoạn kháng chiến.“Mênh mông bốn mặt sương mùĐất trời ta cả chiến khu một lòng”Trời đất bị chìm lấp trong cả màn sương giăng khắp nơi, khiến cho khung cảnh chiến đấu trở nên uy linh và không kém phần lãng mạn. Những dù giữa một biển sương mù khó khăn, con người vẫn không mất đi vẻ đẹp lãng mạn của lòng mình. Với hình ảnh chọn lọc “mênh mông bốn mặt sương mù”, chiến khu mang nét đặc trưng rộng lớn, đồng thời thể hiện sự phát triển của kháng chiến, chiến khu giải phóng được mở rộng hơn. Cùng với cụm từ “Đất trời ta cả” khẳng định quyền làm chủ vùng giải phóng, và sự tương phản “Mênh mông bốn mặt” và “chiến khu một lòng” Cả vũ trụ, núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng nhìn về một hướng, đang hướng về cuộc chiến đấu, hướng về sứ mệnh bảo vệ quê hương đất nước yêu dấu của mình nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã làm nên những chiến công vang dội, hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang“Ai về ai có nhớ không ?Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà.”Bằng câu hỏi tu từ, hỏi nhưng không cần trả lời, thể hiện niềm vui to lớn trước chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Sau đó là câu trả lời “Ta về ta nhớ” vừa là câu trả lời, đồng thời cũng là câu nói khẳng định ẩn chứa biết bao niềm tự hào không nhỏ. Bằng phép liệt kê các địa danh ở Việt Bắc gắn liền với những sự kiện quan trọng như Phủ Thông, đèo Giàng, là nơi đã diễn ra các trận hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Sông Lô phố Ràng Trận sông Lô đánh tàu chiếm Pháp trong chiến dịch Việt Bắc và trận đánh đồn phố Ràng. Cao - Lạng tức là Cao Bằng và Lạng Sơn, năm 1950 ta mở chiến dịch giải phóng biên giới Việt – Trung. Đó là những chiến công tiêu biểu góp phần quan trọng, mang tính quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống điệp từ "nhớ" cùng với thể thơ lục bát âm điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào, sâu lắng, diễn tả nỗi nhớ vơi đầy dào dạt trong kí ức của nhà thơ. Giọng thơ thay đổi linh hoạt, lúc trầm lắng, lúc mạnh mẽ mãnh liệt trong niềm vui, khiến độc giả như đang hòa mình vào niềm vui lớn của dân tộc, niềm vui trọn vẹn khi đất nước hoàn toàn tự lại, bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi đã mang lại cho đọc giả không khí nóng hổi từ những cuộc kháng chiến đỉnh điểm của dân tộc ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đoạn thơ cũng khắc họa được hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc trù phú, dữ dội nhưng cũng rất lãng mạn và “bao la”, khắc họa được hình ảnh người cán bộ về xuôi có tình cảm sâu nặng gắn bó với thiên nhiên, với cách mạng. Đồng thời thể hiện niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của quân và dân ta và khẳng định một điều Việt Bắc chính là cái nôi, nuôi dưỡng cách mạng.* Một số đề liên hệ mở rộng khácSo sánh và cảm nhận hai đoạn thơ trong bài Việt Bắc và SóngLiên hệ và so sánh hai tác phẩm Việt Bắc và Từ ẤyGiới thiệu và phân tích phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu-/-Trên đây, Đọc Tài Liệu vừa cung cấp cho các em những nội dung kiến thức cần thiết cho một bài văn phân tích Việt Bắc từ cơ bản bao trùm toàn bộ bài thơ đến chuyên sâu đi vào nội dung từng đoạn của bài thơ. Các em có thể tùy theo yêu cầu của đề bài để lựa chọn cách phân tích phù hợp nhất. Chúc các em làm bài tốt và đạt kết quả cao.
Bài thơ Việt Bắc, tác giả, tác phẩm và dàn ý phân tích Việt BắcCác bạn học sinh thân mến! Để giúp các bạn học tốt Ngữ văn lớp 12, đã tổng hợp tài liệu Việt Bắc với nội dung đầy đủ và kèm theo những bài văn mẫu hay liên quan đến bài thơ Việt Bắc, qua tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh soạn bài lớp 12, phân tích thơ hay hơn. mời các bạn học sinh tham Bắc - Tố HữuViệt BắcI. Đôi nét về tác giả Tố HữuII. Đôi nét về tác phẩm Việt BắcIII. Dàn ý phân tích Việt BắcIV. Mở bài và kết bài phân tích bài thơ Việt BắcMở bài phân tích bài thơ Việt BắcKết bài phân tích Việt BắcViệt BắcMình về mình có nhớ ta? Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không? Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù? Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu... Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông áy, suối Lê vơi đầy Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lưng ịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ ồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa...Ta về, mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi èo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù ất trời ta cả chiến khu một về ai có nhớ không? Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà... Những đường Việt Bắc của ta êm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày èn pha bật sáng như ngày mai lên. Tin vui chiến thắng trăm miềm Hoà Bình, Tây Bắc, iện Biên vui về Vui từ ồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang. Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công iều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Nước trôi nước có về nguồn Mây đi mây có cùng non trở về? Mình về, ta gửi về quê Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai Nâu này nhuộm áo không phai Cho lòng thêm đậm cho ai nhớ mình Trâu về, xanh lại Thái Bình Nứa mai gài chặt mối tình ngược Nước trôi, lòng suối chẳng trôi Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non á mòn nhưng dạ chẳng mòn Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhoà. Nứa mai mình gửi quê nhà Nước non đâu cũng là ta với mình Thái Bình đồng lại tươi xanh Phên nhà lại ấm, mái đình lại vui...- Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? Mình đi, ta hỏi thăm chừng Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?- ường về, đây đó gần thôi! Hôm nay rời bản về nơi thị thành Nhà cao chẳng khuất non xanh Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường. Ngày mai về lại thôn hương Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng. Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng Phố phường như nấm như măng giữa trời Mái trường ngói mới đỏ tươi. Chợ vui trăm nẻo về khơi luồng hàng Muối Thái Bình ngược Hà Giang Cày bừa ông Xuất, mía đường tỉnh Thanh Ai về mua vại Hương Canh Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam ịnh, lụa hàng Hà ông Áo em thêu chỉ biếc hồng Mùa xuân ngày hội lùng tùng thêm tươi Còn non, còn nước, còn trời Bác Hồ thêm khoẻ, cuộc đời càng vui!- Mình về với Bác đường xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường! Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo Người đi rừng núi trông theo bóng Người...- Lòng ta ơn ảng đời đời Ngược xuôi đôi mặt một lời song song. Ngàn năm xưa nước non Hồng Còn đây ơn ảng nối dòng dài lâu Ngàn năm non nước mai sau ời đời ơn ảng càng sâu càng tay nhau hát vui chung Hôm sau mình nhé, hát cùng Thủ Đôi nét về tác giả Tố HữuI. Tiểu sử tác giả Tố HữuTố Hữu 1920 - 2002 tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh tại thị xã Hội An tỉnh Quảng Nam, quê ở làng Phù Lai nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.Năm 1937, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và từ đó hoàn toàn hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách Tám năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa, lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố Huế nơi đầu não của bộ máy chính quyền phong hai cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ và cho đến năm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà Sự nghiệp văn học của nhà thơ Tố Hữu1. Con đường thơ của Tố HữuThơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn của cuộc đấu tranh ấy đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà cuộc kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu đã sáng tác được nhiều tập thơ, bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp của mình, trong đó phải kể đến Từ ấy bao gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng, tập thơ Việt Bắc,…Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cách mạng bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giành thống nhất đất nước. Thơ Tố Hữu vẫn bám sát những bước đi và nhiệm vụ của cách mạng, của đời sống chính trị trên đất nước các bạn tham khảo thêm tư liệu về tác giả Tố Hữu tại Tác giả Tố Đôi nét về tác phẩm Việt Bắc1. Hoàn cảnh ra đờiChiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7 - 1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở 10 - 1954, những người kháng chiến từ cân cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt thơ có hai phần phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân Vị trí đoạn tríchĐoạn trích thuộc phần 1 của tác phẩm, tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến3. Bố cục 2 phầnPhần 1 20 câu đầu Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra điPhần 2 còn lại Lời của người ra đi với nỗi nhớ Việt Bắc4. Giá trị nội dungViệt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…Việt Bắc là khúc hát ân tình chung của những người cách mạng, những người kháng chiến, của cả dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ. Bên cạnh đó, bài thơ còn cất lên âm hưởng anh hùng ca vang dội, đưa ta về với một thời kì lịch sử hào hùng, trọng đại của đất Giá trị nghệ thuậtSử dụng sáng tạo hai đại từ “mình, ta” với lối đối đáp giao duyên trong dân ca, để diễn đạt tình cảm cách thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đàSử dụng thành công thể thơ lục bát truyền ngữ, hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng trưng…Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh Dàn ý phân tích Việt BắcA. Mở bàiGiới thiệu về tác giả Tố Hữu tiểu sử, con đường cách mạng, phong cách thơ..Giới thiệu về bài thơ Việt Bắc hoàn cảnh ra đời, khái quát nội dung và nghệ thuậtB. Thân bài1. Lời nhắn nhủ của người ra đi và kẻ ở lạia Tám câu đầu Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịnCách xưng hô mình - ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến.“Mười lăm năm ấy” là trạng ngữ chỉ thời gian gắn bó nhớ thương vô vàn giữa người đi kẻ ở. Bốn chữ “thiết tha mặn nồng” đã cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt.“núi” và “nguồn” là sự vận dụng rất linh hoạt và tài tình của Tố Hữu với câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là lời nhắc nhở, dặn dò kín đáo rất đỗi chân thành Việt Bắc là cội nguồn Cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Xin người về đừng quên cội quên nguồn.“Bâng khuâng” có nghĩa là nhớ nhung, luyến tiếc, buồn vui lẫn lộn. “Bồn chồn” là từ láy diễn tả tâm trạng cảm xúc day dứt, hồi hộp, nôn nao trong lòng khiến cho bước chân đi cũng ngập ngừng, bịn rịn không muốn chia ảnh “Áo chàm đưa buổi phân ly”. “Áo chàm” là hình ảnh hoán dụ để chỉ con người Việt Bắc tuy nghèo khó, giản dị, mộc mạc, chất phác nhưng giàu tình yêu thương.“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm, không phải là họ không có gì để nói mà vì xúc động nghẹn ngào không thốt được nên lời. Dấu ba chấm lửng đặt ở cuối câu như càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy. Nó giống như nốt lặng trong một khuôn nhạc mà ở đó tình cảm cứ ngân dài sâu lắng.⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra điNhân vật trữ tình Ta - nhân dân Việt Bắc, mình cán bộ cách mạng – tác giả.“Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” khung cảnh núi rừng hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến.“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” sự đồng cam cộng khổ, tửng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù pháp tu từ nhân hóa “rừng núi nhớ ai” tình cảm tha thiết của Việt Bắc đối với những người kháng chiến.“Trám bùi để rụng, măng mai để già” thức ăn thường nhật của bộ đội, cách nói thật hay lấy cái thừa để nói cái thức đối lập “hắt hiu lau xám/ đậm đà lòng son” biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc nhưng trong lòng vẫn thủy chung son sắt với cách mạng.“Mình đi mình có nhớ mình” câu thơ hay nhất trong bài, một sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời trong thơ Tố Hữu - người ở nhắn nhủ với người về, sự ướm hỏi khéo léo dự báo những chuyển biến tư tưởng trong hòa bình.→ Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình...⇒ Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồa Nhớ cảnh và người Việt BắcNỗi nhớ được so sánh với nỗi nhớ người yêu luôn thường thiên nhiên Việt Bắc Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, buổi chiều khói bếp hòa quyện với sương núi, cảnh bản làng ẩn hiện trong sương, cảnh rừng nứa bờ tre...Nhớ về con người Việt Bắc Nhớ người Việt Bắc trong nghèo khó, vất vả mà vẫn tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với cách mạng; nhớ những kỉ niệm đầy ắp vui tươi, ấm áp giữa bộ đội và người dân Việt Bắc lớp học i tờ, những giờ liên hoan; nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động “người mẹ”, “cô em gái”.⇒ Với kết cấu đan xen, cứ một câu tả cảnh, một câu tả người đã làm nổi bật vẻ đẹp hài hoà, sự đan cài quấn quýt giữa thiên nhiên và con người. Đây là vẻ đẹp đậm màu sắc phương Nhớ Việt Bắc đánh giặc và Việt Bắc anh hùngĐộng từ mạnh “rầm rập, đất rung, nát đá” diễn tả ngày Việt Bắc ra trận tràn đầy khí thế, tưởng như mặt đất đang rung chuyển dưới những bàn chân của những người chiến sĩ trong cuộc hành quân vĩ đại từ khắp các ngã láy “điệp điệp, trùng trùng” thể hiện khí thế, quyết tâm, sức mạnh tinh thần quyết tử chi tổ quốc quyết sinh.“Ánh sao đầu súng” những đêm hành quân chiến đấu, người lính chiến đấu vừa có sao rọi sáng vừa như rực sáng của lí tưởng trên đầu súng.“dân công đỏ đuốc” những đêm hành quân của dân công có ngọn đuốc để soi đường, thể hiện tinh thần quyết tâm.“Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay” khẳng định sức mạnh của tinh thần, của ý chí – đêm ra trận hừng hực khí thế.“thăm thẳm sương dày/ Đèn pha bật sáng…” khẳng định niềm tin, lạc quan, luôn tin tưởng vào thắng lợi của cuộc chiến đấu, của ngày mai tươi sáng.→ Khẳng định vai trò của Việt Bắc Việt Bắc là quê hương, là căn cứ địa vững chắc của cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước.⇒ Nhịp thơ mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ... tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh Nhớ Việt Bắc niềm tinNhớ cuộc họp cao cấp với nhiều chi tiết, hình ảnh tươi hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.⇒ Việt Bắc là cội nguồn là quê hương cách Kết bàiKhái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, nêu cảm nhận của bản Mở bài và kết bài phân tích bài thơ Việt BắcMở bài phân tích bài thơ Việt BắcMở bài phân tích Việt Bắc mẫu 1Nền văn học Việt Nam đã ghi danh nhiều tác giả với những cống hiến quan trọng. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lại có những dấu mốc văn học khác nhau. Trong đó, không thể không nhắc đến tác giả Tố Hữu - một nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, với hình ảnh người lính anh dũng cùng tình cảm gắn bó sâu nặng với đồng bào Việt Bắc, ông đã mang đến cho bạn đọc một góc nhìn khác vô cùng trữ tình về người chiến sĩ trong thời chiến thông qua bài thơ Việt bài phân tích bài thơ Việt Bắc mẫu 2Năm tháng trôi qua, nhiều thứ đã trở thành dĩ vãng tuy nhiên những giá trị thì vẫn trường tồn cùng thời gian và gây ấn tượng sâu sắc với thế hệ đi sau. Có thể lúc bấy giờ có rất nhiều tác phẩm văn học tiêu biểu, nhưng mãi sau này chúng ta vẫn còn ấn tượng và yêu quý nhà thơ Tố Hữu cùng hình ảnh người lính với tình cảm sâu nặng, sự gắn bó thân thiết với người dân Việt Bắc trong thời bài phân tích Việt BắcKết bài phân tích Việt Bắc mẫu 1Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương. Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay như một hòn ngọc bài phân tích Việt Bắc mẫu 2Như vậy, bằng giọng thơ mang đậm tính trữ tình - chính trị, tác giả Tố Hữu đã tái hiện thành công một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc với tình cảm tha thiết, chân thành. Qua đó, chúng ta có thể thấy được bức chân dung chân thực, sinh động của những người chiến sĩ cách mạng qua công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân. Đó chính là nền tảng để xây dựng nghĩa tình cách mạng thủy chung, son sắt trong những năm tháng “mưa bom, bão đạn”. Đồng thời thể hiện tính toàn dân trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước - một trong những yếu tố tạo nên chiến thắng vẻ vang “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của chiến dịch Điện Biên các bạn tham khảo thêm các bài viết dưới đây của chúng tôiBộ đề ôn thi THPT Quốc gia năm 2020 môn Ngữ văn20 đề đọc hiểu thi THPT Quốc gia môn Ngữ vănCách làm bài văn nghị luận xã hội Dạng tổng hợpTrên đây VnDoc đã giới thiệu tới các bạn Việt Bắc. Để có kết quả cao hơn trong học tập, Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn nhé. VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu Giải bài tập Lịch Sử 12, Giải bài tập Địa Lí 12, Học tốt Ngữ văn 12, Tài liệu học tập lớp 12 mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.
Dẫn chứng là gì? Cách triển khai dẫn chứng trong bài văn nghị luận Dẫn chứng là gì? 2. Dẫn chứng trong nghị luận văn học 3. Phân tích dẫn chứng. Dẫn chứng là gì? Cách triển khai dẫn chứng trong bài văn nghị luận Dẫn chứng là gì? Xét trong kết cấu đoạn văn, để có sự lập luận sâu sắc cần có hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng. Về dẫn chứng, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về dẫn chứng có nhiều cách định nghĩa khác nhau – Trong công trình nghiên cứu Từ điển Hán Việt, Phan Văn Các đã định nghĩa luận chứng như sau + Nghĩa 1 Là chứng cớ làm chỗ dựa cho lập luận Luận chứng đầy đủ và chính xác. + Nghĩa 2 Sự chứng minh một phán đoán là đúng hay không, dựa trên phán đoán đã biết là đúng. Bản luận chứng. – Trong tài liệu Làm văn 12, Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã định nghĩa“Luận chứng là sự phối hợp, tổ chức các lí lẽ và dẫn chứng để thuyết minh cho luận điểm. Thực chất của luận chứng, là cách đưa luận cứ vào quĩ đạo lôgic để tạo thành sức thuyết phục cho luận điểm”. – Từ điển Wiktionary định nghĩa về dẫn chứng + Danh từ Dẫn chứng là “Cái được đưa ra để chứng minh làm cơ sở cho điều nói ra, viết ra” + Động từ Dẫn thí dụ, bằng cớ để chứng minh cho điều nói ra, viết ra là đúng, là có cơ sở. Dẫn chứng ra nhiều cứ liệu xác thực. Như vậy, dẫn chứng là chứng cớ làm chỗ dựa vững chắc cho lập luận tăng thêm sức chính xác, thuyết phục cho luận cứ, luận điểm trong bài văn nghị luận. Luận chứng là cách gọi đầy đủ của dẫn chứng và sự phân tích, bình luận dẫn chứng trong bài văn nghị luận. 2. Dẫn chứng trong nghị luận văn học Dẫn chứng trong văn nghị luận văn học là những chứng cứ tạo nên tính thuyết phục cho bài văn nghị luận văn học. Trong bài văn nghị luận nói chung, luận chứng có thể là bằng chứng về số liệu, giấy tờ, bằng chứng…Trong nghị luận văn học, luận chứng có thể là câu thơ, đoạn thơ, những nhận định, đánh giá của các tác giả, nhà lí luận phê bình…đối với các tác phẩm văn xuôi dẫn chứng có thể là chi tiết, nhân vật ngoại hình, lời nói, hành động, nội tâm tình tiết, cốt truyện, hình ảnh, không gian, thời gian… Dẫn chứng phân theo thể loại văn học bao gồm – Trữ tình Dẫn chứng có thể là một bài thơ, đoạn thơ, hình ảnh, cấu tứ, nhịp điệu thơ. – Tự sự Đối với thể loại tự sự dẫn chứng có thể là nội dung tóm tắt, nhân vật xuất thân, ngoại hình, lời nói, hành động, diễn biến tâm lí nhân vật trong truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch. Những tình tiết truyện, chi tiết, hình ảnh, không gian, thời gian, diễn biến câu chuyện. – Kịch Dẫn chứng có thể là xung đột và cách giải quyết xung đột, hành động kịch, nhân vật kịch, ngôn ngữ kịch Đối thoại, độc thoại bàng thoại. Dẫn chứng theo yêu cầu của đề bài nghị luận văn học Trong một bài nghị luận văn học, sẽ có rất nhiều dẫn chứng. Dẫn theo công trình nghiên cứu Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu trung học cơ sở, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh và Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống đã phân loại dẫn chứng thành hai loại “dẫn chứng bắt buộc” và “dẫn chứng mở rộng” – “Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu” Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, – “Dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết tự viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc” Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, Ví dụ đề bài Nhận định về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng “Nổi lên trong thơ Tố Hữu như một thành công tuyệt đẹp là những sáng tác về Bác Hồ kính yêu” – Dẫn chứng bắt buộc Các tác phẩm thơ của Tố Hữu viết về chủ tịch Hồ Chí Minh Bác ơi, Sáng tháng năm, Theo chân Bác, Cánh chim không mỏi, Hồ Chí Minh, Một khúc ca, Trưa tháng Tư, Sài Gòn…Có thể là một hoặc hai trong một số các sáng tác của Tố Hữu đề làm rõ vấn đề những sáng tác thành công về Hồ Chủ tịch kính yêu. – Dẫn chứng mở rộng Các tác phẩm viết về Bác Hồ của các tác giả khác. Có thể là Bác Hồ – Người cho em tất cả của Hoàng Long, Hoàng Lân, Cháu nhớ Bác Hồ của Thanh Hải 8/1956, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ 1951, Em gặp Bác Hồ của Trần Đăng Khoa, Bộ đội Ông Cụ của Nông Quốc Chấn…Trong quá trình làm bài, người viết có thể liên hệ một số vần thơ khác về Bác để mở rộng dẫn chứng, tạo độ sâu, độ rộng cho dẫn chứng trong lập luận. Dẫn chứng mở rộng có thể ở nhiều cấp độ. Dẫn chứng bắt buộc là một đoạn thơ, một đoạn trích văn xuôi thì dẫn chứng mở rộng có thể là một tác phẩm thơ, một tác phẩm văn xuôi. Dẫn chứng bắt buộc là một tác phẩm văn học này thì dẫn chứng mở rộng có thể là tác phẩm khác của cùng nhà văn hoặc tác phẩm của nhà văn khác cùng đề tài, giai đoạn văn học. Ngoài ra dẫn chứng mở rộng có thể là các nhận định, quan niệm, ý kiến đánh giá của các nhà văn, nhà phê bình văn học. Chúng ta đã phân loại dẫn chứng trong một bài văn nghị luận, cần đưa ra một nguyên tắc sử dụng. Như tên gọi của hai loại dẫn chứng “bắt buộc”- cần được ưu tiên, chú trọng, tập trung vào dẫn chứng bắt buộc để làm sáng tỏ vấn đề, mở rộng – để làm sáng tỏ thêm cho dẫn chứng bắt buộc. Để có một bài văn đúng cần khai thác tốt dẫn chứng bắt buộc nhưng để có một bài văn hay cần có thêm dẫn chứng mở rộng. Như đánh giá của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong Văn bồi dưỡng năng khiếu trung học cơ sở “Dẫn chứng bắt buộc cho người đọc thấy bề sâu của người phân tích còn qua dẫn chứng mở rộng thấy được bề rộng trong tầm kiến thức văn của người ấy.” Trong thực tế, sẽ có một số dạng đề không giới hạn phạm vi đưa dẫn chứng, chính người viết cần tự đặt ra giới hạn về dẫn chứng văn học. 3. Phân tích dẫn chứng. a. Thao tác phân tích dẫn chứng. – Khái niệmPhân tích là chia nhỏ đối tượng thành các yếu tố để xem xét một cách kĩ càng nội dung, hình thức và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng. – Mục đích Làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng sự vật, hiện tượng – Yêu cầu + Xác định vấn đề phân tích + Chia vấn đề thành những khía cạnh nhỏ + Khái quát tổng hợp, phân tích bao giờ cũng gắn với tổng hợp. Đó là bản chất của thao tác phân tích trong văn nghị luận – Cách phân tích + Các yếu tố, các phương tiện nội bộ tạo nên đối tượng và quan hệ giữa chúng với nhau + Quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan Nguyên nhân – kết quả Kết quả– nguyên nhân + Thái độ, sự đánh giá của người phân tích đối với đối tượng được phân tích. Chúng tôi đưa ra khái niệm, cách phân tích của thao thác lập luận phân tích đề làm rõ thao tác phân tích dẫn chứng Thao tác lập luận phân tích nằm trong hệ thống các thao tác lập luận của văn bản nghị luận Thao tác lập luận giải thích, thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận chứng minh, thao tác lập luận bình luận, thao tác lập luận so sánh, thao tác lập luận bác bỏ. Nhưng trong quá trình làm văn, không thể tách rời các thao tác một cách rõ ràng. Như khi phân tích một dẫn chứng không chỉ đơn thuần dùng một thao tác lập luận phân tích mà song song đó người viết cần sử dụng thao tác bình luận, so sánh để đào sâu trong việc khai thác dẫn chứng. Người viết phân tích dẫn chứng cần chia, tách đối tượng thành các yếu tố theo những tiêu chí, quan hệ nhất định quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng có liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng được phân tích…. Phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh, song cần đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất. Khi đã chia nhỏ vấn đề để làm rõ, người viết có thể sử dụng thao tác so sánh để làm sáng rõ đối tượng đang nghiên cứu trong tương quan với đối tượng khác. So sánh đúng làm cho bài văn nghị luận sáng rõ, cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục. Khi so sánh phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấy sự giống nhau và khác nhau giữa chúng đồng thời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm của người viết/nói. b. Vai trò của việc phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học Trong bài nghị luận văn học dẫn chứng chiếm một vị trí rất quan trọng bởi lẽ, ông bà ta có câu “Nói có mách, sách có chứng” quả nhiên như thế. Thứ nhất chúng ta điểm qua vị trí của dẫn chứng trong bài văn nghị luận. Xét trong lập luận, một bài văn được cấu tạo có ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Trong đó phần thân bài được cấu tạo từ nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn có một cấu trúc riêng, bỏ qua phần chuyển đoạn để tạo nên tính mạch lạc, tính liên kết cho bài văn, chúng tôi xét trong hệ thống lập luận gồm luận điểm, luận cứ, luận chứng. Trong cấu trúc của một đoạn văn, có nhiều cách triển khai như sau tổng – phân – hợp, quy nạp, diễn dịch, song hành, móc xích, nêu phản đề, so sánh, phân tích nhân quả, vấn đáp. Ứng với mỗi kiểu kết cấu đoạn văn khác nhau mà dẫn chứng sẽ được đặt ở một vị trí khác nhau. Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào kiểu kết cấu phổ biến và có tính ứng dụng cao nhất tổng – phân – hợp. Xét trong cấu trúc của kết cấu tổng – phân – hợp, thông thường dẫn chứng được đặt ở vị trí giữa hoặc gần cuối đoạn văn. Thứ hai, vị trí – đánh giá một vị trí xứng đáng, tức ý nghĩa của dẫn chứng trong đoạn văn và bài văn nghị luận văn học. Có thể đánh giá luận chứng như một mảnh ghép đặc biệt trong bức tranh – đoạn văn. Chúng tôi đánh giá cao vai trò của dẫn chứng bởi lẽ, khi người viết phân tích đề triển khai ý để hình thành hệ thống luận điểm. Vì một số lý do, đôi khi trong quá trình giảng dạy trên lớp thầy cô đã cung cấp các ý chính, những ý đó có thể trở thành các luận điểm. Tuy nhiên khó khăn là cách lập luận, đưa ra những luận cứ, luận chứng như thế nào để phù hợp? Trong khi đó dẫn chứng là cơ sở để tái hiện cho luận điểm và minh chứng cho những gì người viết đã trình bày trước. Minh chứng xác thực – tạo nên tính thuyết phục cho bài văn nghị luận. Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn nghị luận là thuyết phục người đọc, người nghe. Có như thế mới thấy dẫn chứng giữ một vị trí then chốt, là một tiêu chí đánh giá, để xác minh tính chính xác của lập luận mà người viết đưa ra. Luận cứ của lập luận phải chân thực, xác đáng và toàn diện. Mối quan hệ giữa luận điểm và luận cứ rất khăng khít, chặt chẽ Luận điểm làm sáng rõ đứng được là dựa vào luận cứ, còn luận cứ, luận chứng nêu ra để phục vụ cho luận điểm. Trong nội bộ các luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng cũng soi sáng cho nhau lí lẽ tạo cho dẫn chứng khả năng thuyết minh cho luận điểm, còn dẫn chứng thực tế lại làm cho lí lẽ có nội dung, có sức nặng. Thêm nữa việc chọn dẫn chứng là một tiêu chí đánh giá học sinh, đặc biệt là học sinh lớp chuyên, lớp chọn. Để có được tính thuyết phục một cách sâu sắc cần có một sự sắp xếp “có ý đồ”. Sự sắp xếp “có ý đồ” đó không phải bất kì một học sinh nào cũng làm được khi làm bài văn nghị luận văn học. Tìm được dẫn chứng đã là một bước khó nhưng hệ thống và sắp xếp lại là quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách viết, bàn luận dẫn chứng ấy như thế nào để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận một cách thuyết phục. Từ đó, qua việc hình thành hệ thống dẫn chứng một cách lôgic, khoa học bàn luận dẫn chứng một cách sâu sắc là một tiêu chí để giáo viên đánh giá năng lực học sinh trong viết văn, và đó cũng là điều kiện cần của học sinh chọn, học sinh giỏi môn Văn cần trang bị cho mình. Ngoài việc tạo nên tính chính xác, tính thuyết phục cho bài văn nghị luận văn học. Dẫn chứng còn tạo nên sự độc đáo, sức hấp dẫn cho bài văn nghị luận. Việc chọn lọc được dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu, đa dạng tạo nên sự phong phú, đa dạng tạo điểm nhấn, tính thẩm mĩ cho bài văn nghị luận của học sinh. Điểm qua vị trí, vai trò của dẫn chứng trong bài nghị luận văn học để chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn về dẫn chứng. Dẫn chứng không đơn thuần là sự nhớ và chép lại một hai câu thơ hay một tình tiết truyện mà nó còn thể hiện tư duy lôgic, kiến thức, kĩ năng trong lập luận văn nghị luận văn học. Dẫn chứng còn là một tiêu chí để phân định, đánh giá năng lực của học sinh giỏi văn.
Nói về sự quen thuộc của cách xưng hô “mình” - “ta”, có thể liên hệ đến ca dao “Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ “Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình” Chữ trung thì để phần cha Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình” Khi phân tích lời đáp của người ra đi “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” Chúng ta có thể liên hệ đến lời thơ của Lưu Quang Vũ “Phút chia tay ta chỉ nắm tay mình Điều chưa nói mà bàn tay đã nói Mình đi rồi hơi ấm còn để lại Còn bồi hồi trong những ngón tay ta” “Hơi ấm bàn tay” - Lưu Quang Vũ Phân tích câu thơ “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng/ Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô” gợi cho chúng ta nhớ đến hình ảnh người mẹ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng” “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” - Nguyễn Khoa Điềm Khi phân tích chữ “đổ” trong câu thơ “Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Chúng ta có thể so sánh với chữ “đổ” trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá Thu đến nơi nơi động tiếng huyền” Khi nói đến phẩm chất anh hùng, bất chấp hy sinh, gian khổ, sát cánh bên bộ đội của người dân Việt gợi ta nhớ đến “Ôi đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng” “Đất nước” - Nguyễn Đình Thi Khi phân tích hình ảnh hiện thực “vành mũ” trong câu thơ “Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan” ta có thể liên hệ đến hình ảnh “Vẫn đôi dép lội chiến trường Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy” “Tiếng hát sang xuân” - Tố Hữu Ý thơ “Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan” gợi ta nhớ đến “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”“Tây Tiến” - Quang Dũng Khi phân tích hình ảnh “Những đường Việt Bắc của ta” để làm nổi bật niềm tự hào của nhân vật trữ tình vì cảm giác được làm chủ những vùng không gian rộng lớn của Tổ quốc ta có thể liên hệ cảm hứng quen thuộc ấy trong thơ ca cách mạng “Mây trời của ta, trời thắm của ta Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” “Ta đi tới” - Tố Hữu Hoặc “Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa” “Đất nước” - Nguyễn Đình Thi Nói đến sự tự hào về cuộc kháng chiến thần thánh của thời đại cách mạng, Quân đội nhân dân Việt Nam “Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan” Ta có thể liên hệ đến niềm tự hào trước các tráng sĩ thời Trần mang tinh thần Sát Thát “Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông”
Trang 1 của 2 trang 1 2 » Điểm sáng tạo cho bài văn nghị luận từ lâu được đưa vào khung điểm chính thức của biểu điểm, đáp án các kì thi. Sáng tạo trong văn nghị luận thể hiện qua nhiều khía cạnh Cách dùng từ, đặt câu, cách kiến tạo câu văn, cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cách vận dụng kết hợp các thao thác lập luận, cách so sánh, liên hệ mở rộng.. Vậy làm thế nào để đạt được số điểm sáng tạo, với đoạn nghị luận xã hội là điểm và bài nghị luận văn học là điểm? Tôi xin chia sẻ một cách trong nhiều cách để đạt điểm sáng tạo, đó là phải biết vận dụng liên hệ so sánh thêm với những ngữ liệu có liên quan đến tác phẩm nghị luận. Chú ý - Khi liên hệ, so sánh, ta phải chỉ ra điểm tương đồng hoặc khác biệt giữa các ngữ liệu để đi đến những nhận xét, khái quát cần thiết. - Không nên lạm dụng thao tác này, mỗi bài nghị luận chỉ nên liên hệ, so sánh từ 2 - 3 ngữ liệu. Liên hệ mở rộng khi viết đoạn mở bài Mở bài 1 Chia li, tiễn biệt là một đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa nay. Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử. Đó là cuộc chia ly của Lý Bạch với Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hạc "Bóng người đã khuất bầu không - Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời"; là cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngày mặn nồng, thắm thiết "Người lên ngựa, kẻ chia bào - Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"; đó là "cuộc chia li chói ngời sắc đỏ - tươi như cánh nhạn lai hồng" trong thơ Nguyễn Mĩ ...Và đến "Việt Bắc" của Tố Hữu người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử giữa những người cách mạng miền xuôi với người Việt Bắc. Đoạn trích [...] ghi lại phần nào tâm trạng luyến lưu, bịn rịn của người đi, kẻ ở trong giờ phút chia ly. Mở bài 2 Thơ xưa viết về chia li, tiễn biệt thường chất chứa nỗi buồn đau, sầu muộn; từ cảnh Thúy Kiều không nỡ dứt vạt áo Thúc Sinh "Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san Truyện Kiều - Nguyễn Du đến cánh người chinh phụ mỏi mắt trông theo bóng dáng người chồng khuất dần trong khoảng không vô tận "Cùng trông lại lại cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai" Chinh phụ ngâm Cũng viết về cảnh chia ly, nhưng "Việt Bắc" của Tố Hữu lại mang đậm âm hưởng vừa lãng mạn, vừa hùng tráng. Điều đó được thể hiện phần nào trong đoạn thơ "Những đường Việt Bắc của ta [...] Vui lên Việt Bắc Đèo De, Núi Hồng" Liên hệ mở rộng khi viết đoạn khái quát sau mở bài "Việt Bắc" viết về cuộc chia tay lịch sử giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ, chiến sĩ về xuôi. Nếu các cuộc chia ly trong thơ cổ thường gắn với tâm trạng buồn đau, u sầu thì trong "Việt Bắc" Tố Hữu lại thể hiện những sắc điệu mới. Bởi bài thơ được sáng tác trong ngày chiến thắng, chia tay để rồi gặp lại, cả người đi người ở đều hướng đến một viễn cảnh tươi đẹp của đất nước. Điều này cũng cho thấy Tố Hữu luôn là nhà thơ của lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn. Thơ ông không đi vào những tình cảm cá nhân riêng tư mà chỉ hướng đến những cảm xúc lịch sử của lòng người, của thời đại. Khúc ca về cuộc chia tay của nhân dân VB với cán bộ về xuôi đã minh chứng cho điều Xuân Diệu nói "Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình". Xem tiếp bên dưới liên hệ mở rộng phần thân bài Last edited by a moderator 12 Tháng hai 2023 Liên hệ mở rộng khi nhận xét về cách xưng hô mình - ta Mình - ta vốn là cách xưng hô quen thuộc trong đời sống hàng ngày, là cách xưng hô của vợ chồng hoặc giữa những người có mối quan hệ thân thiết, gắn bó. Trong ca dao, dân ca cặp từ mình - ta thường xuất hiện trong các bài ca dao giao duyên như Mình nói với ta mình hãy còn son Ta đi qua ngõ thấy con mình bò Con mình những trấu cùng tro Ta đi lấy nước tắm cho con mình Hay Mình về có nhớ ta chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười Hoặc Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ Cách xưng hô mình - ta gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca. Sáng tạo của nhà thơ là ở chỗ nếu trong ca dao, dân ca mình - ta là đôi lứa yêu nhau với một nam một nữ thì trong bài thơ mình - ta là người đi người cán bộ miền xuôi và kẻ ở nhân dân Việt Bắc. Sáng tạo hơn nữa là trong bài thơ mình - ta có sự chuyển hóa, hòa quyện thành sự đồng vọng diễn tả chung tâm tư của cả người đi, kẻ ở. Cả mình và ta đều chung những kỉ niệm gắn bó, chung một nỗi niềm tâm trạng, nay phải chia tay biết bao lưu luyến, bịn rịn. Bài thơ đã vượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư để chuyển tải một vấn đề rất lớn của đời sống cách mạng – đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân. Chỉnh sửa cuối 13 Tháng mười một 2022 Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn 8 câu đầu 1. Cụm từ "mình có nhớ" được lặp lại 2 lần, riêng từ nhớ được lặp lại 4 lần trong thể hiện nỗi nhớ da diết, khôn nguôi của người ở lại. Họ lo sợ mai này bạn mình về nơi phồn hoa đô hội đầy cám dỗ sẽ không giữ được tình cảm son sắt, thủy chung. "Việt Bắc" là bài ca tình nghĩa. Câu hỏi vang lên dồn dập như nhắc nhở, như khắc sâu những tình cảm tốt đẹp của quân dân, của cách mạng và kháng chiến, của mình với ta. Nỗi niềm, tình cảm ấy của người ở lại còn được nhà thơ Tố Hữu nhắc đến trong đoạn thơ sau của bài thơ Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng Phố đông có nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng 2. Lời người ở lại khơi gợi lại thời gian gắn bó trong suốt 15 năm. Câu thơ phảng phất âm hưởng của một câu Kiều về 15 năm tình nghĩa sâu nặng, thủy chung của Thúy Kiều và Kim Trọng Những là dày ước mai ao Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình Mười lăm năm ấy là mười lăm năm gắn bó giữa những người cách mạng miền xuôi với nhân dân Việt Bắc trên chiến khu cách mạng. Mười lăm năm ấy được tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940, từ khi Hồ Chí Minh về nước bắt tay vào xây dựng khu căn cứ địa cách mạng tại chiến khu Việt Bắc để làm thủ đô kháng chiến của dân tộc Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ Cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc đã cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu gắn bó khăng khít và làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc "vang dội năm châu, chấn động địa cầu" và rồi là một cuộc chia tay lịch sử, người cán bộ cách mạng rời Việt Bắc về xuôi. Mười lăm năm "Mình đây ta có đắng cay ngọt bùi", mười lăm năm "bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng"...làm sao kể xiết biết bao ân tình. Bốn từ "thiết tha mặn nồng" cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt. Hỏi không chỉ để nhắn nhủ người đi mà đây cũng là cách để người ở lại bày tỏ tình cảm của mình. Không biết ra về mình có nhớ không, còn ta không thể nào quên những ngày tháng ấy. 3. Lời người gợi lên cảnh một cuộc chia tay đầy lưu luyến bịn rịn. Trong đó "áo chàm" là biện pháp nghệ thuật hoán dụ dùng hình ảnh chiếc áo màu chàm để chỉ người Việt Bắc, là cách dùng bộ phận để chỉ toàn thể vì người Việt Bắc thường nhuộm và mặc áo màu chàm. Màu chàm là màu sắc của núi rừng, bền bỉ, không hề phai nhạt như tình cảm mãi không bao giờ nhạt phai. Màu áo chàm thể hiện phẩm chất của người Việt Bắc giản dị, mộc mạc, chịu thương chịu khó và ân tình, thủy chung Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Chàm nâu thêm đậm phấn son chẳng nhòa Cuộc chia tay có những người dân Việt Bắc đầy ân nghĩa đưa tiễn, giãi bày tình cảm nhớ thương. Người ra đi cũng chưa đi đã nhớ nhớ tiếng ai tha thiết, nhớ áo chàm, cồn nhỏ, nhớ cảnh nhớ người và tình cảm của người ra đi cũng thật son sắc, thủy chung. Chỉnh sửa cuối 3 Tháng mười hai 2022 Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn Mình về rừng núi nhớ ai Ban đầu, người ở lại giãi bày tình cảm một cách gián tiếp, tế nhị bằng cách mượn các hình ảnh thiên nhiên như rừng núi, trám bùi, măng mai. Đây là cách nói lấp lửng, giãi bày tình cảm đầy ý nhị, khéo léo mà nhà thơ Tố Hữu học được từ ca dao Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với nghệ thuật hoán dụ "rừng núi nhớ ai", trong đó hoán dụ "rừng núi" chỉ Việt Bắc và người Việt Bắc, đại từ phiếm chỉ "ai" chỉ người cán bộ về xuôi đã diễn tả trong cuộc chia tay này, dường như cả thiên nhiên và con người Việt Bắc đều thương nhớ người cán bộ về xuôi. Người ở lại còn khéo léo bày tỏ tình cảm chân thành, mộc mạc của mình qua hình ảnh trám bùi, măng mai vốn sản vật của núi rừng Việt Bắc. Đây là các món ăn thường nhật của cán bộ kháng chiến, cũng được Hồ Chí Minh nhắc đến trong bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Khi những người cán bộ cách mạng ở Việt Bắc, người Việt Bắc lấy măng, hái trám để nuôi cán bộ. Vì thế bài thơ mới có những câu thơ tuyệt bút Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Tình cảm quân dân thắm thiết nên khiến hình ảnh cô gái hái măng một mình trong rừng mà không hề gợi cảm giác lẻ loi, đơn chiếc. Nhưng bây giờ khi những người cán bộ cách mạng về xuôi trám và măng không có người thu hái nên để trám rụng, măng già. Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn bốn câu - Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.. 1. Trước nỗi lòng của người ở lại, người ra đi cũng khẳng định tình cảm son sắc thủy chung. "Ta – mình", "mình – ta" được lặp đi lặp lại, quấn quýt, quyện hòa làm một. Câu thơ đầu của đoạn thơ là sự vận dụng sáng tạo câu ca dao về tình cảm lứa đôi Ta với mình tuy hai mà một Mình với ta tuy một mà hai "Đinh ninh" là sự khẳng định chắc chắn, mãi mãi gắn bó, thuỷ chung. Như vậy, người ra đi ở đây đã khẳng định tình cảm của mình với Việt Bắc và người Việt Bắc trước sau như một, lúc nào cũng mặn mà đinh nình, dù có thế nào cũng không thay lòng đổi dạ. 2. Biện pháp nghệ thuật so sánh "Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu" đã khẳng định một lần nữa sự chung thuỷ son sắt, tình cảm bền chặt của người cán bộ kháng chiến với Việt Bắc. Nhà thơ Tố Hữu có lẽ đã sáng tạo câu thơ dựa trên mô típ quen thuộc "bao nhiêu" - "bấy nhiêu" của ca dao Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu... Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy. Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi.. Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, nhà thơ đã diễn tả nỗi nhớ về một mảnh đất như nỗi nhớ người yêu, một mối quan hệ chính trị lại giống như một tình yêu đôi lứa. Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ và nỗi nhớ trong tình yêu thì luôn là nồng nàn, da diết, cháy bỏng nhất. Thơ ca xưa nay viết về nỗi nhớ trong tình yêu rất nhiều. Ca dao cũng có những câu như Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than Hoặc Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu cũng thể hiện một nỗi nhớ mãnh liệt Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi Nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ lại được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh miêu tả Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ có khi ngẩn ngơ, ngơ ngẩn; có khi có khi bồn chồn, bối rối, bổi hổi, bồi hồi, mãnh liệt và thường trực.. Nỗi nhớ Việt Bắc và người Việt Bắc phải chăng hàm chứa mọi cung bậc cảm xúc ấy. Với hình ảnh so sánh này, Tố Hữu đã thể hiện được tình cảm rất sâu đậm của người đi bởi có nỗi nhớ nào thổn thức, thường trực và mãnh liệt hơn nỗi nhớ trong tình yêu. - Điệp từ "nhớ" được lặp lại hai lần trong câu thơ đã nhấn mạnh nỗi nhớ cồn cào, da diết khôn nguôi. Cuộc đời mỗi con người đều không tránh được chuyện đi và ở, hội ngộ và chia li. Những mảnh đất đã từng qua, ngững con người đã từng gắn bó đều để lại niềm thương và nỗi nhớ như nhà thơ Chế Lan Viên đã khái quát Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn Mười lăm năm trên chiến khu Việt Bắc đã để lại bao tình cảm luyến thương nên trong giờ phút chia tay tất cả kỉ niệm trong suốt 15 năm gắn bó bỗng chốc ùa về với những ấn tượng, tình cảm sâu đậm nhất. Và người ra đi cũng nhu cầu được bày tỏ nỗi lòng. Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi.. Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lung ịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Người Việt Bắc nhường cơm, sẻ áo, nuôi giấu người cán bộ cách mạng còn được thể hiện qua hình ảnh người mẹ Việt Bắc "nắng cháy lưng, địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô". Đây có lẽ là một trong những hình ảnh in đậm nhất trong lòng người ra đi. Người mẹ địu con lên nương rẫy trong cái nắng đến cháy da, cháy thịt để vừa trông nom, che chở cho đứa con thơ bên mình vừa kiên trì, cần mẫn "bẻ từng bắp ngô" để nuôi con, nuôi cán bộ. Sự tương phản, đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên với ý chí nghị lực của con người càng làm tôn lên vẻ đẹp cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh của người mẹ dân tộc. Hình ảnh những người mẹ tuyệt vời, kì diệu trong những cuộc kháng chiến còn được gặp lại trong bài thơ "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của Nguyễn Khoa Điềm Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng. Chính người mẹ Việt Bắc, những người mẹ Việt Nam anh hùng với tình mẫu tử và tình cảm cách mạng thiêng liêng đã góp phần to lớn làm nên chiến thắng của dân tộc, trở thành những nhân vật lịch sử trong các cuộc kháng chiến vĩ đại. Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. 1. Trên cái nền xanh ấy có điểm xuyết những bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn. Màu đỏ tươi của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng như ngọn lửa ấm thắp sáng lên bức tranh cảnh vật, xua tan bớt cái lạnh giá, u ám, hiu hắt của rừng núi vào mùa đông. Hai chữ "đỏ tươi" không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân. Hình ảnh bông hoa chuối đỏ tươi còn hiện lên như một biểu tượng của niềm tin, của tình yêu, của sự lạc quan như Nguyễn Mỹ cũng hướng đến trong "Cuộc chia li màu đỏ" Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi Như chưa hề có cuộc chia li 2. Hình ảnh con người trong bức tranh cảnh vật mùa đông là hình ảnh người với công việc lên rừng hái củi, phát nương làm rẫy góp công góp sức cho cuộc chiến đấu. Bước chân đã tới lưng đèo, hình ảnh con người đứng giữa đèo cao, giữa núi đồi đầy vững chãi, tự tin, mang tâm thế của người làm chủ núi rừng, làm chủ cuộc sống. Tư thế và tâm thế ấy còn được thể hiện một lần nữa trong bài thơ "Lên Tây Bắc" của Tố Hữu thể hiện rõ quan niệm của nhà thơ về con người kháng chiến, trở thành một nét thi pháp đặc sắc trong thơ của ông Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo Tâm thế là chủ ấy còn được thể hiện trong nhiều bài thơ của các nhà thơ cùng thời với Tố Hữu như Nguyễn Đình Thi Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Hình ảnh người lên rừng lấy củi, phát nương, làm rẫy còn được miêu tả với con dao giắt cạnh sườn, ánh nắng mùa đông phản chiếu vào sáng lấp lánh. Ở đây, câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc. Hình ảnh con người trong hai câu thơ không chỉ mang vẻ đẹp sử thi, tiêu biểu cho con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp mà còn gợi lên phẩm chất tốt đẹp của người Việt Bắc cũng là phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó. 3. Nếu màu sắc của mùa đông là hai sắc màu xanh, đỏ thì bức tranh mùa xuân gắn với sắc trắng. Cùng với sự chuyển mùa, mùa đông sang mùa xuân, là sự chuyển màu trong bức tranh thơ. Màu xanh trầm tĩnh, lạnh giá của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến. Cụm từ "trắng rừng" cho thấy hoa mơ nở trắng, bao phủ cả khu rừng. Núi rừng Việt Bắc ngập tràn một sắc trắng tinh khôi, dịu nhẹ, ngọt ngào và mang sức sống bất diệt, xôn xao, rạo rực của mùa xuân. Hiện thực đầy mơ mộng này còn được nhà thơ Tố Hữu nhắc đến một lần nữa trong trường ca "Theo chân Bác" Ôi sáng xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ Liên hệ mở rộng khi phân tích đoạn Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Những ngày kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc là những ngày tháng đầy gian khổ. Những ngày đầu ấy quân và dân ta không chỉ phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt là mưa nguồn, suối lũ, mây mù, với điều kiện sinh hoạt vật chất vô cùng thiếu thốn chỉ có miếng cơm chấm muối, chia sẻ với nhau từng củ sắn, bát cơm, cùng đắp chăn làm từ vỏ cây sui.. mà còn có cả những ngày giặc đến giặc lùng. "Giặc đến" là thời điểm nguy kịch, "giặc lùng" là cảnh nguy biến, hoảng loạn, tan tác, loạn lạc. Cảnh giặc đến gây bao tang thương đã được nhà thơ Hoàng Cầm khắc họa Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Hiện thực của những ngày đầu ta yếu, địch mạnh ấy cũng giống như khi Lê Lợi mới gây dựng khởi nghĩa Lam Sơn được Nguyễn Trãi viết trong "Bình Ngô đại cáo" Ta đây! Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình. Nghệ thuật chiến tranh du kích là phải dựa vào là phải dựa vào địa hình hiểm trở, rừng núi để đánh giặc. Bởi vậy mà núi đá, rừng cây cũng tham gia đánh giặc. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp, hiền hòa trong bức tranh tứ bình nay bỗng trở thành những chiến sĩ thực thụ trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.. Những dãy núi trùng điệp dàn trải như thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm che chở bộ đội, dân quân, du kích.. Tư thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi làm cho kẻ thù bất lực. Rừng cây cũng tham gia đánh giặc Rừng cây vừa bao vây quân thù, vừa chở che bộ đội. Rừng núi vốn là những vật vô tri, song dưới con mắt của nhà thơ, trong cuộc kháng chiến trường kì toàn dân, toàn diện cũng trở nên có ý chí, có tình người. Chúng cùng quân dân ta tham gia chiến đấu và trở thành đồng đội với quân và dân ta trong cuộc chiến. Với nghệ thuật nhân hóa, Tố Hữu đã biên núi rừng, thiên nhiên thành những người lính anh dũng kiên cường. Liên hệ mở rộng khi phân tích hai câu Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Nếu như đoạn thơ 10 câu trên là những ngày đầu khó khăn, gian khổ mới chỉ có những trận đánh, chiến thắng bước đầu thì đoạn thơ tiếp theo đã tái hiện khí thế chiến đấu, chiến thắng ngút trời của quân và dân ta. Đoạn thơ được kết cấu theo cấu trúc mà trong đó nét tả khái quát là miêu tả những con đường ra trận trên chiến khu Việt Bắc làm hiện lên khí thế ra trận của quân và dân ta. Sau đó là miêu tả cụ thể những đoàn quân, đoàn dân công và những đoàn xe cơ giới ra chiến trường trên những nẻo đường Việt Bắc . Và cuối cùng là nêu các tên địa danh là những chiến thắng trên khắp mọi miền tổ quốc, khẳng định chiến thắng về ta. Khí thế chiến đấu và chiến thắng ấy được thể hiện trước hết qua nét tả khái quát về những con đường ra trận trên chiến khu Việt Bắc. Hai câu thơ mở ra một không gian rộng lớn, hùng tráng là trên khắp các ngả đường Việt Bắc. Thời gian được thể hiện qua từ láy "đêm đêm" không chỉ thể hiện quãng thời gian lặp đi lặp lại là hàng đêm mà còn xác nhận một hiện thực thời đó là quân ta chủ yếu hoạt động và kiểm soát về đêm. Mặt khác, trong cuộc kháng chiến thần tốc ấy, để tiếp tế, chi viện cho chiến trường đủ cả về nhân lực và vật lực thì quân và dân ta phải hoạt động cả trong đêm. Hiện thực ấy được nhắc tới trong rất nhiều thi phẩm ra đời cùng thời như Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu Trích Đất nước - Nguyễn Đình Thi Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống Bộ đội bên sông đã trở về Trích Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm Khí thế chiến đấu dũng mãnh của quân và dân ta được thể hiện rõ qua từ láy "rầm rập" và biện pháp nghệ thuật so sánh "như là đất rung". Từ láy "rầm rập" Cho thấy sự chuyển động của những bước chân trên con đường ra mặt trận và hơn nữa cho thấy sức mạnh, nhịp độ khẩn trương của quân ta. Nghệ thuật so sánh có phần cường điệu "như là đất rung" càng nhấn mạnh khí thế chiến đấu, sức mạnh quân và dân ta, là sức mạnh nhân nghĩa của mấy ngàn năm lịch sử. Khí thế chiến đấu và chiến thắng ấy tưởng chừng có thể làm rung chuyển trời đất, lay động cả càn khôn. Mặt đất tưởng chừng rung chuyển dưới bước chân của những người khổng lồ đầu đội trời, chân đạp đất trong cuộc ra quân vĩ đại. Từ "của ta" một lần nữa khẳng định tâm thế làm chủ. Đó là tâm thế của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tâm thế ấy còn được Tố Hữu nhắc đến một lần nữa trong Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Của ta trời đất đêm này Sông kia, đồi nọ, núi này của ta Cũng là tâm thế được thể hiện trong thơ Nguyễn Đình Thi về thời ấy Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nhìn chung, hai câu thơ thể hiện rõ niềm tự hào làm chủ và khí thế chiến đấu chiến thắng cao ngất trời của những con người chưa ra trận mà như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Truyền thống yêu nước đã kết tinh thành sức mạnh, thành khí thế hào hùng của cả dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược như "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi miêu tả Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông Nổi gió to quét sạch lá khô Thông tổ kiến sụt toang đê vỡ. Last edited by a moderator 12 Tháng hai 2023 Trang 1 của 2 trang 1 2 » tố hữu việt bắc
dẫn chứng việt bắc